Trang chủ Bằng phát minh, sáng chế • Liên hệ     • Giới thiệu     • Tài liệu hướng dẫn

Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu

Cập nhật Thứ ba - 12/01/2016 14:24 In bài viết

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0004027
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ chế tạo máy - tự động hóa (Sáng chế)
4. Ngày công bố 12/01/2016
5. Ngày cấp 24/07/2019
6. Chủ sở hữu chính Công ty vật liệu xây dựng và xuất nhập khẩu Hồng Hà Tiến sỹ Phạm Khắc Huy
7. Tác giả Tiến sỹ Phạm Khắc Huy
8. Điểm nổi bật
Sáng chế đề cập đến các phương tiện bốc dỡ hàng rời, cụ thể là đề cập đến thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu. Thiết bị theo sáng chế bao gồm cần cẩu, hệ thống băng tải và cơ cấu treo hệ thống băng tải và điều chỉnh độ dốc băng tải để có thể bốc dỡ hàng rời một cách liên tục và linh hoạt.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp
Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập
Sáng chế đề cập đến các phương tiện bốc dỡ hàng rời, hàng bao như vật liệu xây dựng, lương thực, v.v. từ các phương tiện vận tải thủy như tầu, thuyền, bè, mảng, ca nô, xà lan ở sông, cảng lên bờ và ngược lại. Cụ thể, sáng chế đề cập đến thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu.
Tình trạng kỹ thuật của sáng chế
Hiện nay, để bốc dỡ hàng ròi, hàng bao từ phương tiện vận tải thủy lên bờ và ngược lại, các loại cần cẩu đã được sử dụng. Mặc dù có một số ưu điểm nhất định như có thể chuyển tải ở bất kỳ điểm nào trong khoảng không gian làm việc của tay cẩu theo cả ba phương, nhưng cần cẩu còn có một số hạn chế sau:
- Chỉ chuyển tải được từng mã hàng, tức là không thể chuyển chúng một cách liên tục được;
- Chỉ có thể chuyển tải trong phạm vi mà tay cẩu có thể với được theo phương thẳng đứng;
- Trọng lượng mã hàng giảm dần khi càng xa tâm thân cẩu;
- Chiều cao thân trụ của cần cẩu đòi hỏi tương đối lớn để có thể tăng tầm với của cần cẩu, khi đó tính ổn định của cần cẩu sẽ giảm, dẫn đến kết cấu nặng nề, cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích.
Do giá thành bốc dỡ hàng hoá thường rất cao, nên việc sử dụng cần cẩu để bốc dỡ hàng rời là không kinh tế.
Đã biết một phương tiện khác được sử dụng để bốc dỡ hàng rời là băng tải. Băng tải khắc phục được nhược điểm bốc dỡ không liên tục của cần cẩu, vì nó có thể tải liên tục các mã hàng từ đầu băng tải có độ ổn định và độ cứng vững của hệ thống tốt. Tuy nhiên, băng tải cũng có một số mặt hạn chế sau: - Độ dốc băng tải không được lớn hơn góc ma sát của hàng hoá chuyển trên băng tải, bởi vì nếu không hàng hoá sẽ trượt trở lại vị trí bán đầu của nó, nhất là khi hàng được chuyển từ thấp lên cao;
- Vùng làm việc của băng tải hay của hệ thống băng tải chỉ ở điểm đầu và điểm cuối băng tải. Băng tải không cho phép thu gom được từng mã hàng nằm rải rác như đối với cẩu.
Băng tải thường được lắp ráp và sử dụng cho một địa điểm cụ thể và hiện nay mới chỉ sử dụng để chuyển tải theo chiều từ bờ xuống sông.
Bản chất kỹ thuật của sáng chế
Mục đích của sáng chế là đề xuất thiết bị bốc dỡ hàng ròi cho phép bốc dỡ hàng rời như một cần cẩu và như một băng tải, tức là cho phép bốc dỡ hàng rời một cách linh hoạt, dễ lắp ráp và phù hợp với mọi địa hình của bờ cảng, bò sông và bò đê, v.v.
Mục đích đề ra đạt được nhờ thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu bao gồm cần cẩu, hệ thống băng tải và cơ cấu treo hệ thống băng tải và điều chỉnh độ dốc băng tải.
Theo phương án thứ nhất, cần cẩu có thân cẩu dựng đứng quay được, lắp vào thân cẩu này là tay cẩu và tay treo đối trọng, hệ thống băng tải là các băng tải nối với nhau bằng các khớp quay nằm trong các giá đỡ băng tải làm cho các băng tải có thể quy được trong mặt phẳng thẳng đứng để điều chỉnh độ dốc của chúng, và cơ cấu treo hệ thống băng tải và điều chỉnh độ dốc băng tải bao gồm các thanh néo lắp cứng vào các giá đỡ của khớp quay, hệ thống ròng rọc-pa lăng tăng lực lắp trên đỉnh các thanh néo này và lắp trên đỉnh thanh trên của tay cẩu và trên tay treo đối trọng.
Theo phương án thứ hai, thân cẩu được thiết kế nằm ngang và để điều chỉnh tầm với của tay cẩu, tay cẩu được cấu tạo thành hai nhịp, nhịp thứ nhất và nhịp thứ hai nối với nhau bằng khớp quay và ở nhịp thứ hai có lắp cơ cấu tời - con lăn di chuyển được theo phương nằm ngang.
Theo phương án thứ ba, hai băng tải được nối cứng với hai nhịp của tay cẩu nhằm đơn giản hoá kết cấu của thiết bị bốc dỡ hàng rời.
Theo phương án thứ tư, các giá đỡ băng tải đóng vai trò thân cẩu và tay cẩu nhằm tiếp tục đơn giản hoá kết cấu và làm tăng tính linh hoạt của thiết bị bốc dỡ hàng rời.
Theo phương án thứ năm là phương án mà cơ cấu treo hệ thống băng tải và điều chỉnh độ dốc băng tải là hệ thống xi lanh thủy lực.
Mô tả vắn tắt các hình vẽ
Sáng chế tiếp tục được minh hoạ bằng các hình vẽ sau đây, trong đó:
Hình 1 thể hiện hình vẽ sơ lược hình chiếu cạnh của thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ nhất của sáng chế;
Hình 2 thể hiện hình vẽ sơ lược hình chiếu cạnh của thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ hai của sáng chế;
Hình 3 thể hiện hình vẽ sơ lược hình chiếu cạnh của thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ ba của sáng chế;
Hình 4 thể hiện hình vẽ sơ lược hình chiếu cạnh của thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ tư của sáng chế;
Hình 5 thể hiện hình vẽ sơ lược hình chiếu cạnh của thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ năm của sáng chế.
Mô tả chi tiết sáng chế
Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ nhất của sáng chế được thể hiện trên hình 1 bao gồm cần cẩu và hệ thống băng tải, trong đó cần cẩu được dùng để treo hệ thống băng tải này.
Cần cẩu gồm thân cẩu dựng đứng 1.1, trên đỉnh có bố trí hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 1.2, trụ đế của nó được lắp vào ổ quay 1.3 nằm trong bệ đế 1.4 nối với móng bê tông để nhờ đó thân cẩu có thể quay một góc lớn nhất là 360° nhờ điều khiển bằng tay hay bằng động cơ điện và được định vị bằng cơ cấu phanh và chốt hãm (không được thể hiện trên hình vẽ) gắn vào trụ đế của thân cẩu 1.1. Ở giữa thân cẩu 1.1 có tay cẩu 1.5 và tay treo đối trọng 1 .6 lần lượt được nối với thân cẩu 1. 1 nhờ các khớp nối 1.7 và 1.8. Ở đầu cuối của tay cẩu 1.5 có gắn cứng thanh trên 1.9 và thanh dưới 1.10, đồng thời mặt đầu mút của tay cẩu 1.5 và mặt quay ra ngoài của thanh trên 1.9 và thanh dưới 1.10 được tạo thành một bề mặt nhẵn để thanh néo (sẽ được mô tả dưới đây) của hệ thống băng tải trượt trên đó để di chuyển lên xuống, ở đầu xa của tay treo đối trọng 1.6, một đối trọng 1.11 được lắp vào đó để giữ thăng bằng cho thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu. Trên đỉnh thanh trên 1.9 có bố trí hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 1.12. Tời 1.13 được bố trí trên tay cẩu 1.5 và tay treo đối trọng 1.6 để cuốn dây cáp treo và cũng chính là để điều chỉnh độ dốc của băng tải.
Hệ thống băng tải gồm các băng tải bốc hàng 1.14, băng tải trung chuyển 1.15, băng tải tiếp đất 1.16 nối với nhau bằng các khớp quay 1.18 lắp lỏng trong các giá đỡ khớp quay 1.17 để các băng tải này có thể quay quanh khớp quay trong mặt phẳng thẳng đứng. Bản thân từng đai băng tải chuyển động được nhờ động cơ điện và hệ thống hộp giảm tốc và cơ cấu truyền động đai thang (không được thể hiện trên hình vẽ). Trên các giá đỡ khớp quay 1.17 có lắp cứng các thanh néo 1.19 mà đỉnh của chúng có lắp ròng rọc bắt cáp 1.20 để cố định cáp 1.21 vào đó, đồng thời cáp 1.21 này luồn qua ròng rọc của hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 1.2 và 1.12 đến tời 1.13. Thanh néo 1.19 lắp trên giá đỡ khớp quay 1.17 của băng tải trung chuyển 1.15 và băng tải tiếp đất 1.16 được lắp tỳ vào thành dưới 1.10 và có thể trượt dọc trên mặt phẳng được tạo ra bởi mặt ngoài của thanh dưới
1.10, mặt đầu mút của tay cẩu 1.5 và mặt ngoài thanh trên 1.9. ở đầu còn lại của băng tải 1.14 và băng tải 1.16 có lắp giá đỡ khớp quay 1.23 trên có lắp cứng thanh néo 1.19 mà đỉnh của nó có lắp ròng rọc bắt cáp 1.20 để giữ chặt cáp 1.21 vào đó. Nhờ có kết cấu như vậy nên các băng tải quay được trong mặt phẳng thẳng đứng. Trên hình 1, số chỉ dẫn 1.22 là phương tiện vận tải thủy, 1.24, 1.25 là các băng tải trên đất, 1.26 là hàng rời và 1.27 là ôtô vận tải.
Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu này hoạt động như sau:
Khi muốn bốc dỡ hàng rời từ phương tiện vận tải thủy 1.22 thì thân cẩu 1.1 sẽ quay quanh ổ 1.3 một góc thích hợp để đưa băng tải bốc hàng
1.14 đến vị trí cần thiết. Sau đó, dùng hệ thống các tời 1.13 để điều chỉnh độ dốc của các băng tải 1.14, 01.15, 1.16 sao cho góc nghiêng với phương nằm ngang của mặt băng tải nhỏ hơn góc ma sát của hàng rời di chuyển trên mặt băng tải thông qua hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 1.2, 1.12 bằng cách làm cho các băng tải này quay quanh giá đỡ khớp quay 1.17. Việc điều chỉnh độ dốc này được tiến hành một cách độc lập cho từng băng tải 1.14, 1.15 và 1.16. Khi hoàn tất việc điều chỉnh này, băng tải được cho chuyển động nhờ động cơ điện, hệ thống giảm tốc và cơ cấu truyền động đai thang, và hàng rời 1.25 được bốc dỡ ra khỏi phương tiện vận tải thỷ 1.22, đưa lên băng tải bốc hàng 1.14, băng tải trung chuyển
1.15 và băng tải tiếp đất 1.16 để chuyển lên bờ và tiếp đó nhờ các băng tải trên đất 1.25, 1.25 để đưa lên ôtô vận tải 1.27.
Khi hoàn thành việc bốc dỡ hàng rời ra khỏi phương tiện vận tải thủy 1.22, cho ngưng các băng tải và cho thân cẩu 1.1 quay để đưa băng tải bốc hàng 1.14 đến bị trí mới và quá trình bốc dỡ hàng rời được lặp lại như trên.
Như vậy, thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu này cho phép bốc dỡ hàng rời như băng tải thông thường đồng thời cũng cho phép bốc dỡ hàng rời như một cần cẩu.
Với thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ nhất này có thể có được độ ổn định tương đối tốt, năng suất cao và khả năng mang tải lớn.
Tuy nhiên, thiết bị theo phương án này có kết cấu cồng kềnh, vùng làm việc bị hạn chế và độ linh hoạt của nó kém vì chỉ có một bậc tự do (chỉ di chuyển được theo phương thẳng đứng). Vì vậy, thiết bị theo phương án này chỉ thích hợp khi có địa điểm cố định, có yêu cầu bốc xếp thường xuyên và lớn và ở vùng cảng có bến bãi đầu tư xây dựng cố định và lâu dài.
Để khắc phục nhược điểm của thiết bị bốc dỡ hàng rời nêu trên, các tác giả sáng chế đề xuất thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ hai (Xem hình 2). Thiết bị này cũng bao gồm cần cẩu và hệ thống băng tải, trong đó cần cẩu dùng để treo hệ thống băng tải.
Cần cẩu gồm thân cẩu nằm ngang 2.1 lắp vào ổ quay 2.2 nằm trong bệ đế 2.3 làm bằng khung thép hình hay khung bằng bê tông cốt thép nối với móng bê tông bằng bulông (không được thể hiện trên hình vẽ này). Nhờ ổ quay 2.2 này, thân cẩu có thể quay một góc lớn nhất là 360° bằng tay hay bằng động cơ điện và được định vị bằng cơ cấu phanh và chốt hãm 2.4 gắn vào bệ đế 2.3 và vào thân cẩu 2.1. Trên thân cẩu 2.1 có bố trí hệ thống tời 2.5.1 và 2.5.2. ở một đầu của thân cẩu nằm ngang 2.1 có lắp đối trọng 2.6 và ở đầu kia có nối cứng một thanh néo 2.7 mà trên đỉnh của nó có lắp hai hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 2.8. Nối với thân cẩu nằm ngang 2.1 nhờ khớp nối 2.9 là tay cẩu gồm hai nhịp: nhịp thứ nhất 2.10, nhịp thứ hai 2.11 nối với nhau bằng khớp quay 2.12 để điểu chỉnh tầm với của tay cẩu và thanh néo 2.13 được nối cứng với đầu có khớp 2.12 của nhịp thứ nhất 2.10, đầu còn lại của nhịp thứ nhất 2.10 được nối với thân cẩu 2.1 bằng khớp quay 2.9. Cũng giống như thanh néo 2.7, trên đỉnh của thanh néo 2.13 có lắp hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 2.8. Nhịp thứ hai 2.11 là một nhịp đặc biệt trên có bố trí các tòi 2.5, có một đầu nối với nhịp thứ nhất 2.10 bằng khớp quay 2.12 như nêu trên, còn đầu kia nối cứng với thanh néo 2.14 mà trên đỉnh của nó có lắp hệ thống ròng rọc 2.15. Lắp vào nhịp thứ hai 2.11 này là cơ cấu tời - con lăn 2.16 trên có lắp thanh trên 2.17 và dưới có lắp thanh dưới 2.18, và thanh néo trượt 2.25 (sẽ được mô tả dưới đây) của hệ thống băng tải được tỳ vào thanh dưới 2.18 này. Cơ cấu tời - con lăn 2.16 được thiết kế để có thể di chuyển dọc theo nhịp thứ hai 2.11, nhờ đó thanh néo trượt 2.25 của hệ thống băng tải, thanh trên 2.17 và thanh dưới 2.18 di chuyển được theo phương nằm ngang để điều chỉnh tầm với của tay cẩu. Trên đỉnh của thanh trên cũng bố trí hệ thống ròng rọc 2.19.
Hệ thống băng tải gồm các băng tải đơn là băng tải bốc hàng 2.20, băng tải trung chuyển thứ nhất 2.21, băng tải trung chuyển thứ hai 2.22 và băng tải tiếp đất 2.23 nối với nhau bằng các giá đỡ khớp quay 2.24 và quay được nhờ các khớp quay 2.28, các khớp quay 2.28 này được lắp lỏng trong các giá đỡ khớp quay 2.24 để nhờ đó các băng tải quay được trong mặt phẳng thẳng đứng nhằm điều chỉnh độ dốc của chúng một cách hợp lý. Ở đầu còn lại của các băng tải 2.20 và 2.23 có lắp các giá đỡ 2.24 và 2.26 trên đó có lắp cứng các thanh néo 2.27. Trên các thanh néo 2.27 này có lắp ròng rọc bắt cáp 2.29 để giữ chặt cáp 2.30 vào đó, trong khi đó thanh néo trượt 2.25 gắn cứng vào giá đỡ khớp quay 2.24 được lắp tì vào mặt ngoài của thanh dưới 2.18 để có thể trượt trên mặt ngoài của thanh dưới 2.18. Các cáp néo 2.30 được bắt qua hệ thống ròng rọc 2.15, 2.19, 2.8 và tời 2.5.1 để treo hệ thống băng tải vào cần cẩu.
Thiết bị bốc dỡ hàng theo phương án thứ hai này hoạt động như sau: dùng tay hay động cơ điện thân cẩu 2.1 quanh ổ quay 2.2 và dùng hệ thống tời 2.5.2 để quay nhịp thứ nhất 2.10 và thứ hai 2.11 quanh khớp quay 2.9, 2.12 để đưa băng tải bốc hàng 2.20 đến vị trí bốc hàng rời trên phương tiện vận tải thủy. Có thể điều chỉnh vị trí của băng tải 2.20 bằng hệ thống tời 2.5.1 và bằng cơ cấu tời - con lăn 2.16. Sau khi chỉnh đúng vị trí, cần cẩu ngừng hoạt động và được cố định ở chế độ hãm cứng nhờ cơ cấu phanh và chốt hãm 2.4.
Dùng hệ thống tời 2.5.1 và cáp néo 2.30 bắt chặt vào các thanh néo 2.27 để điều chỉnh độ dốc của các băng tải bằng cách kéo các giá đỡ quay 2.24. Vì các băng tải 2.20 - 2.22 có thể quay quanh các giá đỡ khớp quay 2.24 này theo phương thẳng đứng nên độ dốc của chúng được điều chỉnh để góc nghiêng của mặt băng tải với phương nằm ngang nhỏ hơn góc ma sát của hàng rời di chuyển trên băng tải. Việc điều chỉnh này được tiến hành một cách độc lập cho từng băng tải 2.20, 2.21, 2.22 và 2.23. Việc cho băng tải chuyển động, bốc dỡ hàng rời, ngừng hoạt động của hệ thống băng tải và di chuyển hệ thống băng tải được tiến hành như theo phương án thứ nhất.
Nhờ cơ cấu tời - con lăn 2.16 di chuyển thanh trên 2.17, thanh dưới 2.18 và thanh néo trượt 2.25 có thể mở rộng hoặc rút ngắn tầm với của thiết bị bốc dỡ hàng rời. Điều này cho phép thiết bị có được độ linh hoạt cao hơn, do đó có thể dễ dàng sử dụng thiết bị bốc dỡ hàng rời này trong những điều kiện sông nưức, bến bãi khác nhau.
Tuy nhiên, thiết bị theo phương án này vẫn còn nhược điểm là kết cấu cồng kềnh, lắp ráp phức tạp và giá thành chế tạo cao hơn so với thiết bị theo phương án thứ nhất.
Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ ba của sáng chế được thể hiện trên hình 3. Thiết bị này cũng bao gồm cần cẩu và hệ thống băng tải, trong đó cẩu dùng để treo hệ thống băng tải.
Cần cẩu theo phương án này gồm thân cẩu nằm ngang 3.1 lắp vào ổ quay 3.2 nằm trong bệ đế 3.3 làm bằng khung thép hình hay khung bằng bê tông cốt thép nối với móng bê tông bằng bu lông (không được thể hiện trên hình vẽ này). Nhờ ổ quay 3.2 này, thân cẩu 3.1 có thể quay một góc lớn nhất là 360° bằng tay hay bằng động cơ điện (không được thể hiện trên hình vẽ này) và được định vị bằng cơ cấu phanh và chốt hãm 3.4 gắn vào bệ đế 3.3 và vào đầu này của thân cẩu 3.1. Trên thân cẩu 3.1 có bố trí hệ thống tời 3.5 và 3.6. Ở một đầu thân cẩu nằm ngang 3.1 có lắp đối trọng 3.7 để giữ thăng bằng cho toàn bộ thiết bị bốc dỡ hàng rời và ở đầu kia có nối cứng thanh néo 3.8 mà trên đỉnh của nó có lắp hai hệ thống ròng rọc - pa lăng lực 3.9. Nối với thân cẩu nằm ngang 3.1 nhờ khớp nối 3.10 là tay cẩu gồm hai nhịp: nhịp thứ nhất là 3.11 và nhịp thứ hai 3.12 nối với nhau bằng khớp quay 3.13 để các nhịp này có thể quay quanh khớp quay đó trong mặt phẳng thẳng đứng nhằm điều chỉnh tầm với của tay cẩu, và thanh néo 3.14 được nối cứng với đầu có khớp nối 3.13 của nhịp thứ nhất 3.11, đầu còn lại của nhịp thứ nhất 3.11 được nối với thân cẩu 3.1 bằng khớp quay 3.10. Cũng giống như thanh néo 3.8, trên đỉnh của thanh néo 3.14 có hai hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 3.9. Ở đầu còn lại của nhịp thứ hai 3.12 cũng có thanh néo 3.8 mà trên đỉnh của nó có lắp hai hệ thống ròng rọc - pa lăng lực 3.9. Nhờ tay cẩu hai nhịp có khả năng quay quanh hai khớp quay 3.10 và 3.13 nên cầu cẩu này trở nên linh hoạt hơn, cho phép dễ dàng tạo cấu hình làm việc cho hệ thống băng tải treo.
Hệ thống băng tải gồm các băng tải là băng tải bốc hàng 3.15, băng tải trung chuyển thứ nhất 3.16, băng tải trung chuyển thứ hai 3.17 và băng tải tiếp đất 3.18, trong đó băng tải 3.15 và băng tải 3.16 nối với nhau bằng các khớp quay trong các giá đỡ khớp quay 3.19, băng tải bốc hàng 3.15 có lắp cứng thanh néo 3.20 và trên đỉnh của thanh néo này có lắp ròng rọc bắt cáp 3.21 để giữ chặt cáp néo 3.22 vào đó, băng tải 3.16 nối với băng tải 3.17 bằng khớp quay 3.27 trong giá đỡ khớp quay 3.23, còn băng tải 3.17 và 3.18 được lắp sát nhau và lần lượt được nối treo cứng với nhịp thứ hai 3.12 và thứ nhất 3.11 của tay cẩu nhò các thanh néo 3.24. Giá đỡ khớp quay 3.26 được bố trí trên đầu còn lại của băng tải 3.15 cùng với thanh néo 3.20 mà trên đỉnh của nó có lắp ròng rọc bắt cáp 3.21 để giữ chặt cáp néo 3.22 vào đó. Các cáp néo 3.22 được bắt qua hệ thống ròng rọc 3.9, 3.6 và 3.5 để treo hệ thống băng tải này vào cần cẩu. Các băng tải này quay quanh các khớp quay 3.27.
Vì băng tải 3.17, 3.18 được lắp cứng vào các nhịp 3.11, 3.12 của tay cẩu nên kết cấu trở nên gọn hơn và lắp ráp cũng trở nên dễ dàng hơn.
Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ ba này vận hành tương tự như thiết bị bốc dỡ hàng ròi theo phương án thứ nhất và thứ hai nêu trên nên phần mô tả về hoạt động của nó được bỏ qua.
Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ tư được thể hiện trên hình 4. Thiết bị này bao gồm băng tải bốc hàng 4.1, các băng tải trung chuyển 4.2, 4.3, 4.4 và băng tải 4.5 có giá đỡ nằm ngang đóng vai trò thân cẩu và băng tải tiếp đất 4.6 các băng tải này được nối với nhau nhờ các giá đỡ khớp quay 4.7 trong có lắp khớp quay 4.8. Các băng tải nêu trên có động cơ điện và hộp giảm tốc để làm chuyển động dây băng
(không được thể hiện trên hình vẽ), ở đầu cuối của các băng tải 4.1, 4.2, 4.3, 4.4 và 4.5 có lắp cứng các thanh néo 4.9 mà trên đỉnh của chúng có lắp hệ thống ròng rọc - pa lăng tăng lực 4.10 để luồn các dây cáp 4.11 tới hệ thống tời 4.15 để quay các băng tải quanh các giá đỡ khớp quay 4.7 trong mặt phẳng thẳng đứng để điểu chỉnh gốc nâng của các băng tải. Các giá đỡ của các băng tải 4.1 - 4.4 cấu thành các nhịp của tay cẩu theo phương án thứ hai và thứ ba. Giá đỡ của băng tải 4.5 đóng vai trò của thân cẩu được được bố trí nămg ngang và được lắp ổ quay 4.12 nằm trong bệ đế 4.13 làm bằng khung thép hình hay khung bằng bê tông cốt thép nối với móng bê tông bằng bu lông (không được thể hiện trên hình vẽ này). Nhờ ổ quay 4.12 này mà toàn bộ thiết bị bốc dỡ hàng ròi có thể quay một góc lớn nhất là 360°, cơ cấu phanh và chốt hãm 4.14 gắn vào bệ đế 4.13 và vào giá đỡ của băng tải 4.5 để cố định thiết bị ở vị trí cần thiết khi bốc hàng. Trên giá đỡ của băng tải 4.5 có bố trí hệ thống tời 4.15 để cuốn các dây cáp 4.11 nhằm điều chỉnh các góc nâng của băng tải. ở đầu mút của giá đỡ của băng tải 4.5 có treo đối trọng 4.16 để giữ thăng bằng cho toàn bộ thiết bị bốc dỡ hàng rời theo phương án này.
Thiết bị bốc dỡ hàng rời dạng băng tải cẩu theo phương án thứ năm của sáng chế được thể hiện trên hình 5. Thiết bị theo phương án này khác với thiết bị theo phương án thứ tư ở chỗ cơ cấu treo hệ thống băng tải và điều chỉnh độ dốc của băng tải bao gồm các thanh néo, cáp, và ròng rọc -pa lăng tăng lực được thay thế bằng hệ thống xi lanh - pittông thủy lực. Các bộ phận còn lại của thiết bị này là giống hệt các bộ phân tương ứng cảu thiết bị theo phương án thứ tư. Thiết bị này bao gồm băng tải bốc hàng 4.1, các băng tải trung gian 4.2, 4.3, 4.4 và băng tải 4.5 có giá đỡ nằm ngang đóng vai trò thân cẩu và băng tải tiếp đất 4.6, các băng tải này được nối với nhau nhờ các khớp quay 4.8 trong các giá đỡ khớp quay 4.7. Các giá đỡ của các băng tải 4.1, 4.2, 4.3 và 4.4 cấu thành các nhịp của tay cẩu. Giá đỡ của băng tải 4.5 đóng vai trò của thân cẩu được lắp nằm ngang trên ổ quay 4.12 nằm trong bệ đế 4.13 làm bằng khung thép hình bằng bê tông cốt thép nối với móng bê tông cốt thép. Nhờ ổ quay này mà toàn bộ thiết bị có thể quay một góc lớn nhất bằng 360°. Đầu mút của băng tải 4.5 có treo đối trọng 4.16 để giữ thăng bằng cho thiết bị. Cơ cấu treo hệ thống băng tải và điều chỉnh độ dốc của băng tải trong thiết bị này là các xi lanh thủy lực 4.17, trong đó xi lanh thủy lực thứ nhất 4.17 có đầu pittông gắn vào bệ đế 4.13 và đầu xi lanh gắn vào giá đỡ của băng tải 4.4. Các xi lanh thủy lực 4.17 còn lại, mỗi xi lanh có đầu pittông được gắn vào giá đỡ của một băng tải và đầu xi lanh được gắn vào giá đỡ của băng tải liến kể sao cho khi kích hoạt một hoặc các xi lanh thủy lực 4.17 thì băng tải bốc hàng và các băng tải trung chuyển có thể quay được tương đối với nhau trong mặt phảng thẳng đứng.
Việc bốc dỡ hàng rời bằng thiết bị theo phương án thứ tư và thứ năm này (hình 4, hình 5) được tiến hành tương tự như ở các thiết bị theo các phương án từ thứ nhất đến thứ ba nêu trên.
Vói thiết bị theo các phương án thứ tư và thứ năm này có thể mở rộng tầm với của tay cẩu, độ linh hoạt rất lớn (có 4 bậc tự do) và kết cấu trở nên gọn hơn so với các thiết bị phương án nêu trên, đặc biệt là loại thiết bị có hệ thống điều chỉnh độ dốc của băng tải là các xi lanh thủy lực.
10. Nội dung có thể chuyển giao
11. Thị trường ứng dụng
12. Hình ảnh minh họa
In bài viết
Các phát minh, sáng chế khác
 
Banner
Banner home right