Trang chủ Bằng phát minh, sáng chế • Liên hệ     • Giới thiệu     • Tài liệu hướng dẫn

Thảo dược Vegakiss dùng để điều trị HIV/AIDS từ cây trà hoa Dormoy và cây lô hội

Cập nhật Thứ tư - 20/01/2016 11:03 In bài viết

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Thảo dược Vegakiss dùng để điều trị HIV/AIDS từ cây trà hoa Dormoy và cây lô hội
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0005863
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ sinh học (Sáng chế)
4. Ngày công bố 25/10/2006
5. Ngày cấp 25/10/2006
6. Chủ sở hữu chính NGUYỄN PHÚ KIỀU
7. Tác giả NGUYỄN PHÚ KIỀU
8. Điểm nổi bật
Sáng chế đề cập đến thảo dược dùng để điều trị HIV/AIDS chứa các hoạt chất được chiết xuất từ cây trà hoa Dormoy và cây lô hội theo tỷ lệ thành phần như sau (% khối lượng): Trà hoa Dormoy 80 - 90 Lô hội 5- 10 Tá dược vừa đủ Thuốc này có tác dụng tăng cường miễn dịch, ức chế sự phát triển và làm giảm nồng độ virut HIV.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp
Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập
Sáng chế thuộc lĩnh vực y dược, cụ thể hơn sáng chế đề cập đến thảo dược dùng để điều trị HIV/AIDS có nguồn gốc từ cây trà hoa Dormoy và cây lô hội.
Tình trạng kỹ thuật của sáng chế
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV)/bệnh liệt kháng (AIDS) đang là một trong số những thách thức lớn nhất trong lịch sử loài người. Theo số liệu của WHO, hai thập kỷ qua trên thế giới có gần 70 triệu người nhiễm HIV/AIDS, trong đó có khoảng 45 triệu người đang sống chung với HIV/AIDS và 25 triệu người đã chết vì AIDS. Ở Việt Nam, theo số liệu dự báo của Ban Khoa giáo Trung ương tháng 3/2005, số người nhiễm HIV/AIDS là 241.270 người, trong đó số người chuyển sang AIDS là 13.952 người, số người đã chết do AIDS là 8058 người.
Để phòng chống căn bệnh hiểm nghèo này, hiện nay trên thế giới đã có một số thuốc điều trị HIV/AIDS được sử dụng phổ biến, đó là :
Thuốc điều trị có nguồn gốc hóa chất:
Tháng 9/1986 đã có bước đột phá trong việc cung cấp thuốc điều trị AIDS khi những kết quả ban đầu của việc thử nghiệm lâm sàng thuốc Azidothymidine (AZT) đã chứng tỏ là có khả năng làm giảm sự tấn công của virut HIV. AZT là thuốc được tổng hợp đầu tiên vào năm 1984 và là thuốc có thể điều trị ung thư nhưng qua thử nghiệm không có hiệu quả. Thuốc AZT đã được Cơ quan an toàn thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt cho sử dụng để điều trị HIV/AIDS ở Mỹ với tên gọi là Retrovir. Thuốc có tác dụng ức chế sự sao chép tế bào đảo ngược nucleosit, hay các giao điểm của enzym này làm thay đổi chất di truyền của HIV(ARN) thành dạng ADN. Tuy nhiên, việc sử dụng AZT cũng có nhiều tác dụng phụ. Tác dụng phụ nghiêm trọng nhất của AZT liên quan tới tủy xương, đó là các bệnh liên quan đến sự thiếu máu, đặc biệt là thiếu tế bào hồng cầu gây ra sự hủy hoại tủy xương. Ngoài ra, chi phí để điều trị bằng AZT ở Mỹ và một số nước tư bản khác là rất đắt khoảng từ 8000 đến 2000 USD/năm cho một bệnh nhân.
Ngoài AZT, có nhiều loại thuốc kháng retro virut (kháng HIV) đã được sử dụng như: Zidovudine (ZDV), Didanosine (DDI), Lamivudine (3TC), Zalcitabine (DDC), Loviriđe, Ritromavir. Mặc dù, các loại thuốc này có tác dụng phục hồi miễn dịch tương đối tốt, nhưng do phải điều trị trong thời gian dài nên dẫn đến các tác dụng phụ như suy tuỷ, suy thượng thận. Chính vì các tác dụng phụ đó nên các loại thuốc này không được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng.
Thuốc điều trị có nguồn gốc từ thảo mộc:
Hiện nay các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu một số thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc có tác dụng tăng cường miễn dịch cho nguời bệnh HIV/AIDS, ít hay không có tác dụng phụ cho người sử dụng và còn có tác dụng phục hồi sức khỏe nhanh cho người bệnh.
Các loại thuốc được nghiên cứu và bào chế từ thảo mộc đã biết ở trong và ngoài nước, đó là các loại sau đây.
Bằng độc quyền sáng chế Việt Nam số 3896 đề cập đến " Hỗn hợp dịch chiết từ thảo dược và phương pháp làm tăng miễn dịch". Hỗn hợp dịch này bao gồm dịch chiết từ cây chè và một số thảo dược khác. Hỗn hợp dịch này có khả năng trong việc điều trị các rối loạn miễn địch và tình trạng nhiễm HIV.
Patent Mỹ số us 6030622 đề cập đến dịch chiết từ lá chè, lá và rễ cây chân bê, vỏ quả lựu, lá chè, và hoa dâm bụt. Qua nghiên cứu thực nghiệm thấy rằng dịch chiết này có tác dụng kích thích tế bào miễn dịch trung gian.
WO 0197823 đề xuất hỗn hợp của hai hoạt chất catechin và tanin chiết xuất từ cây chè và cây lô hội. Hỗn hợp này có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của virut và vi khuẩn. Đặc biệt, qua nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy thuốc có tác dụng với một số loại virut và vi khuẩn gây bệnh như viêm gan do virut, viêm màng não và HIV.
Mặc dù, các loại thuốc nêu trên có tác dụng tăng cường miễn dịch cho bệnh nhân bị mắc một số bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm virut, trong đó có HIV, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy các thuốc nêu trên chưa có tác dụng đặc hiệu với virut HIV (không ức chế hay giảm được nồng độ virut HIV).
Bản chất kỹ thuật của sáng chế
Mục đích của sáng chế là bào chế ra một loại thuốc điều trị HIV/AIDS có tác dụng ức chế hoặc làm giảm nồng độ virut HIV trong cơ thể người bệnh giúp cho người bệnh có sức khoẻ trở lại bình thường và không có hoặc ít tác dụng phụ.
Để đạt được mục đích này, sáng chế đề xuất thảo dược chứa các hoạt chất được chiết xuất từ cây trà hoa Dormoy và cây lô hội theo tỷ lệ thành phần như sau (% khối lượng):
Trà hoa Dormoy 80 - 90
Lô hội 5 - 10
Tá dược vừa đủ.
Trà hoa Dormoy, Theaceae - Camellia Dormocyana đã được phân tích là có các hoạt chất như catechin, saponin triterpen, flavonoit glucosit. Các hoạt chất này có tác dụng tăng cường miễn dịch, giảm tỷ lệ sao chép tế bào của virut HIV, và có tác dụng chống virut, ức chế sự sinh sản và sao chép ngược của virut gây suy giảm miễn dịch, an toàn và không độc. Trong trà hoa Dormoy còn có hoạt chất melalacca là chất có tác dụng tiêu diệt nấm Candida thường xuất hiện ở bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối, mà các loại thuốc hiện có trên thị trường không có tác dụng này. Nấm này gây cho bệnh nhân không ăn uống được dẫn đến suy kiệt và tử vong.
Cây lô hội, Alove vera TCVN 3428-80, có các hợp chất phenolic, polysacarit, đặc biệt các hợp chất axetoman có mạch phân tử dài và trọng lượng phân tử rất lớn. Các hoạt chất này có tác đụng tăng cường miễn dịch tốt và tác dụng chống virut do làm tăng đáp ứng của tế bào lympho với kháng nguyên khác alen cùng loài (alloantigen). Ngoài ra, các hoạt chất nêu trên còn có tác dụng chống virut gây bệnh cúm và virut herpes simple (HSV-1).
Khi kết hợp dịch chiết thu được từ cây trà hoa Dormoy với dịch chiết từ cây lô hội thu được hỗn hợp hoạt chất có tác dụng tăng cường miễn dịch, ức chế sự phát triển và sao chép ngược của virut HIV, mà khi hoạt chất của cây chè hay cây lô hội phối hợp đơn lẻ với các dược thảo khác chỉ cú hiệu lực tăng cường miễn dịch cho bệnh nhân HIV.
Thảo dược với thành phần nêu trên được sản xuất như sau:
Cành nhỏ và lá của cây trà hoa Dormoy sau khi phơi âm can được sao vàng ở nhiệt độ 70°c và đem hạ thổ đến khi độ ẩm đạt 12-14%. Sau đó, tiến hành nghiền nhỏ theo cách thông thường và chiết xuất bằng cồn 96° theo tỷ lệ giữa trà hoa Dormoy và cồn là 1/4, dịch chiết thu được được cô đặc và sấy chân không ở nhiệt độ 70°c để thu được cao trà hoa Dormoy.
Cây lô hội được bóc vỏ lấy gel và kết tủa bằng cồn 70° theo tỷ lệ giữa cồn và gel lô hội là 1/5. Thu hồi chất kết tủa và sấy chân không ở nhiệt độ 70°c để thu được cao lô hội.
Cao của 2 loại thảo mộc được xay nhỏ và trộn với tá dược như: bột Talc, MgCO3 vừa đủ một viên, sấy khô ở nhiệt độ 70° trong 2giờ, sau vô nang và ép vỉ. Thuốc có màu nâu và mùi thơm của dược liệu. Ví dụ thực hiện sáng chế
90kg cành và lá của cây trà hoa Dormoy được phơi âm can, sau đó được sao vàng, hạ thổ, sấy khô, nghiền nhỏ và chiết bằng 360 lít cồn 96° trong 5 giờ liền thu được dịch chiết. Tiếp theo, cô đặc dịch chiết và sấy chân không ở nhiệt độ 70°c để thu được 3,4kg cao trà hoa Dormoy.
10 kg gel của cây lô hội được kết tủa bằng 50 lít cồn 70°. Chất kết tủa được thu hồi và sấy trong chân không ở nhiệt độ 70°c thu được 0,1kg cao lộ hội.
Trộn đều cao của hai loại dược liệu với nhau và trộn với 100g bột Talc, 75g bột MgCO3. Hỗn hợp thu được được sấy trong chân không ở nhiệt độ 70°c trong 2 giờ để thu được bột thảo dược Vegakiss. Sau đó đóng nang số 0, mỗi viên chứa 500mg bột thảo dược Vegakiss và ép vỉ, mỗi vỉ gồm 10 viên .
Thảo dược Vegakiss được tiến hành kiểm nghiệm về:
1. Độc tính cấp
Thử nghiệm này được tiến hành trên chuột nhắt trắng. Chuột được chia ngẫu nhiên thành 10 lô, mỗi lô 10 con được cho uống liều duy nhất thảo dược thử nghiệm với liều lượng khác nhau nhưng cùng một thể tích 0,1ml/10g thể trọng. Chuột được theo dõi về thể trạng chung và tỷ lệ chuột chết ở từng lô được xác định trong thời gian 72 giờ. Trên cơ sở tỷ lệ chuột chết, xác định LD50 theo phương pháp Litchfield-Wilconxon (1949).
2. Độc tính bán trường diễn
Thử nghiệm này được tiến hành trên chuột nhắt trắng. Chuột được chia ngẫu nhiên thành 2 lô, mỗi lô 10 con. Một lô đựơc cho uống thảo dược Vegakiss với liều là 3g/kg thể trọng (tương đương với 1/10 LD50 qua đường miệng), một lô được sử dụng làm đối chứng được cho uống nước cùng thể tích như lô điều trị liên tục trong 15 ngày. Thể trọng và tình trạng chung của chuột được theo dõi. So sánh chuột trước và sau khi uống thảo dược và chuột uống nước.
Các thử nghiệm nêu trên cũng được tiến hành trên thỏ.
Chuột và thỏ trong các thử nghiệm nêu trên được theo dõi về thể trạng, chức năng gan và thận; chức năng tạo máu thông qua số lượng hồng cầu, số lượng hemoglobin, số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu.
Kết quả thử nghiệm cho thấy sau thời gian thử nghiệm các con vật vẫn ăn uống và hoạt động bình thường, chức năng gan, thận và chức năng tạo máu của chúng không thay đổi.
3. Về tính an toàn và hiệu quả điều trị trên người.
3.1. Thử nghiệm về tính an toàn của thảo dược theo sáng chế trên cơ thể người bình thường
Thử nghiệm này được tiến hành trên 5 người tình nguyện không bị nhiễm HIV/AIDS trong 15 ngày, mỗi ngày uống 4 viên Vegakiss 500mg được bào chế theo sáng chế.
Trước và sau khi uống thuốc, được tiến hành làm các xét nghiệm cơ bản về chức năng gan, tạo máu tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Kết quả thử nghiệm cho thấy với cơ thể người bình thường, nếu cho sử dụng thuốc theo sáng chế với liều lượng và thời gian như trên không gây ra bất kỳ rối loạn chức năng nào mà trái lại còn giúp cho người bình thường ăn, ngủ tốt hơn. Điều đặc biệt là phát hiện trên các bệnh nhân này từ khi sử dụng thuốc theo sáng chế họ không bị mắc dịch cúm, hay lây nhiễm khi tiếp xúc với những người mắc bệnh cúm.
3.2. Thử lâm sàng và đánh giá hiệu quả thảo dược Vegakiss trong điều trị HIV/AIDS
Phương pháp thử nghiệm là phương pháp mở, tiến hành trên một lô điều trị bằng thuốc theo sáng chế và đánh giá kết quả bằng cách so sánh trước và sau khi điều trị. * Thử lâm sàng trên người bệnh HIV/AIDS tình nguyện
Đã tiến hành điều trị thử làm sàng trên 28 người bệnh HIV/AIDS tình nguyện, trong đó HIV 17 người và AIDS là 11 người, các bệnh nhân này được chẩn đoán xác định là dương tính với HIV tại bệnh viện Bạch Mai và Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương. Bệnh nhân được cho sử dụng thảo dược theo sáng chế với liều là 40mg/kg thể trọng/24h (4 viên Vegakiss 500mg/viên) liên tục trong 3 tháng. Mức độ thay đổi về lâm sàng và xét nghiệm được ghi chép theo mẫu bệnh án của Bộ Y tế. Các xét nghiệm CD4, CD3, CD8 và PCR trước và sau khi điều trị được thực hiện. Các tác dụng phụ của thuốc cũng được đánh giá.
Số liệu thu được được xử lý bằng thuật toán thống kê Y- Sinh học. Kết quả thử nghiệm cho thấy:
+ Thuốc Vegakiss có tác dụng tăng cường miễn dịch cho người bệnh, đặc biệt là bệnh nhân AIDS, các chỉ số CD4 hầu hết đều tăng gần về chỉ số của người bình thường;
+ Sức khoẻ phục hồi nhanh chóng: ăn, ngủ tốt và tăng cân nhanh, đa số bệnh nhân tăng từ 1-2 kg sau tháng điều trị đầu tiên;
+ Các nhiễm trùng cơ hội như sốt, lở loét, hạch nổi mất đi nhanh chóng sau khi điều trị;
+ Nồng độ virut HIV được kiểm tra trước và sau khi điều trị bằng phương pháp PCR đối với 11 bệnh nhân HIV/AIDS, kết quả cho thấy:
- 46,43% (5 bệnh nhân) không tìm thấy cấu trúc ARN của HIV trong huyết thanh bằng phương pháp PCR Realtime;
- 53,57% (6 bệnh nhân ) có nồng độ virut giảm so với trước khi điều trị;
+ Thời gian tác dụng của thảo dược theo sáng chế trung bình nằm trong khoảng từ 7 đến 10 ngày sau khi uống;
+ Tác dụng phụ trên lâm sàng hiện tại chưa ghi nhận được trường hợp nào trên 28 bệnh nhân được cho sử dụng thảo dược Vegakiss;
Xét nghiệm cận lâm sàng sau đạt điều trị cho thấy các thông số về máu đều tăng đặc biệt là bạch cầu, yếu tố quan trọng trong hoạt động miễn dịch.
Hơn nữa, để khẳng định hiệu quả của thuốc Vegakiss, đã tiến hành so sánh thuốc Vegakiss với thuốc Zidovudine (ZDV), Didanosine (ddI), Lamivudine (3TC), Zalcitabine (ddC) đang được sử dụng tại Việt Nam. Kết quả được đưa ra trong bảng 1 sau đây.
Bảng 1
Tên thuốc Vegakiss
AZT, 3TC, ddC
Thảo dược đã biết chứa hoạt chất của cây lô hội, hoặc của cây chè đã nêu trên
Nguồn gốc thảo mộc hoá chất thảo mộc
Phục hồi miễn dịch tốt khá tốt
Chống nhiễm trùng cơ hội tốt trung bình
Trung bình
Giảm hay không tìm thấy đạt 46% không giảm không giảm
ARN của virut HIV trong huyết thanh
Phục hồi sức khoẻ tốt yếu tốt
Tác dụng phụ do thuốc không có có: suy tuỷ, suy thượng thận không có
Điều trị tại cộng đồng tốt không được, vì do thuốc có nhiều tác dụng phụ có thể được vì nguồn gốc từ thảo mộc
Thời gian điều trị từ 3 - 12 tháng không giới hạn không có số liệu
Từ bảng 1 có thể thấy rằng:
1. Thảo dược Vegakiss ngoài tác dụng phục hồi miễn dịch cho bệnh nhân HIV/AIDS, còn có tác dụng ức chế và giảm nồng độ virut HIV, hoặc không tìm thấy cấu trúc ARN trong huyết thanh bệnh nhân sau thời gian điều trị từ 3 - 12 tháng.
2. Thảo dược Vegakiss không gây tác phụ cho người bệnh, giúp bệnh nhân phục hồi sức khoẻ nhanh.
3. Liều sử dụng điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS là 0,04g/kg thể trọng tương đương với 4 viên Vegakiss 500mg/ngày, trong khi đó liều cho phép tối đa 0,3g/kg/thể trọng (tương đương 30 viên Vegakiss 500mg/ngày).
4. So sánh với các thuốc điều trị có nguồn gốc hóa chất như AZT, 3TC và một số thuốc có nguồn gốc thảo dược khác như từ cây Lô hội hoặc cây chè thì thảo dược Vegakiss có hiệu lực điều trị tốt hơn, ngoài việc tăng cường miễn dịch thảo dược
Vegakiss còn có tác dụng ức chế và làm giảm nồng độ virut HIV, hoặc không tìm thấy cấu trúc ARN trong huyết thanh cùa bệnh nhân.
Mặc dù chưa cắt nghĩa đươc cơ chế tác dụng của thảo dược Vegakiss, cũng như chưa đủ phương tiện khoa học để phát hiện và làm sáng tỏ cơ chế tác dụng của thảo dược Vegakiss, nhưng tác giả sáng chế và cộng sự cho rằng thảo dược Vegakiss có khả năng ức chế sự phát triển của virut HIV, do vậy đã làm phục hồi nhanh chóng khả năng miễn dịch của người bệnh, kết hợp với tác dụng chống viêm, chống nấm đã giúp cho người bệnh HIV/AIDS phòng chống được nhiễm trùng cơ hội, phục hồi sức khoẻ nhanh chóng. Như vậy, với thảo dược Vegakis sáng chế đã đạt được mục đích đề ra là bào chế ra một loại thuốc điều trị HIV/AIDS có tác dụng ức chế hoặc làm giảm nồng độ virut HIV trong cơ thể người bệnh giúp cho người bệnh có sức khoẻ trở lại bình thường và không có hoặc ít tác dụng phụ.
10. Nội dung có thể chuyển giao
11. Thị trường ứng dụng
12. Hình ảnh minh họa
In bài viết
Các phát minh, sáng chế khác
 
Banner
Banner home right