Trang chủ Bằng phát minh, sáng chế • Liên hệ     • Giới thiệu     • Tài liệu hướng dẫn

Tấm nâng hàng, phương pháp sản xuất tấm nâng hàng, phôi dùng làm dầm đế trong tấm nâng hàng, và các thiết bị sản xuất các dầm đế

Cập nhật Thứ sáu - 22/01/2016 13:54 In bài viết

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Tấm nâng hàng, phương pháp sản xuất tấm nâng hàng, phôi dùng làm dầm đế trong tấm nâng hàng, và các thiết bị sản xuất các dầm đế
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0002248
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ vật liệu mới (Giải pháp hữu ích)
4. Ngày công bố 25/09/2001
5. Ngày cấp 25/09/2001
6. Chủ sở hữu chính FELLINGSBRO KARTONG AKTIEBOLAG
7. Tác giả Johansson Sixten
8. Điểm nổi bật
Sáng chế đề cập tới tấm nâng hàng bao gồm các dầm đế song song (3. 3") và sàn (2) được liên kết với các dầm đế này. Dấu hiệu khác biệt là sàn bao gồm một cuộn hoặc tấm vật liệu có thể uốn gấp được đã được gấp lại để tạo thành bể mặt sàn (4) gồm các panen song song (5) tiếp giáp chặt khít với nhau, và các phần nhô song song (8) trên mặt dưới của nó, bên dưới các chỗ tiếp giáp giữa các panen, các dầm đế có chiều cao lớn hơn đáng kể so với chiều cao theo phương thẳng đứng (h) của các phần nhô, các dầm đế này kéo dài lên trên tới điểm ít nhất là ngang bằng với mặt dưới của bề mặt sàn, phần trên (49) của dầm đế có các rãnh thủng (21) có mặt cắt ngang tương tự như các phần nhô trên mặt dưới của bề mặt sàn, và các phần nhô trên mặt dưới của bề mặt sàn được lắp vào trong các rãnh trong phần trên của các dầm đế, nhờ đó. tấm nâng hàng được tạo ra có các khoảng trống (23) dùng cho các chạc nâng giữa các dầm đế bên dưới các phần nhô, mặt dưới của các phần nhô tạo thành một bề mặt nâng (9) cho các chạc nâng. Sáng chế còn đề cập tới một cụm gồm một số tấm nâng hàng được kết nối với nhau, phôi dùng làm dầm đế, phương pháp sàn xuất tấm nâng hàng, và thiết bị sản xuất các dầm đế.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp

Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập

Sáng chế đề cập tới tấm nâng hàng bao gồm các dầm đế song song và sàn được liên kết với các dầm đế này. Sáng chế còn đề cập tới phương pháp sản xuất tấm nâng hàng, phôi để sản xuất dầm đế, và thiết bị sản xuất các dầm đế này.

Tình trạng kỹ thuật của sáng chê

Các tấm nâng hàng được làm từ các tông, giấy và/hoặc bìa cứng đã được đề xuất trước đây với mục đích cơ bản là đề ra một phương án thay thế rẻ hơn và dễ chế tạo hơn so với các tấm nâng hàng thông thường được làm từ gỗ. Tuy nhiên, các tấm nâng hàng này không được chấp nhận rộng rãi. Nguyên nhân là ở chỗ các tấm nâng hàng này có các nhược điểm như khả năng mang tải quá kém, khó vận chuyển bằng các chạc nâng, giá thành quá cao đối với các tấm nâng hàng đáp ứng được đặc tính kỹ thuật, chi phí để chuyên chở từ nhà sản xuất đến người sử dụng không chấp nhận được, các khó khăn về việc tái chế vật liệu, và các nhược điểm khác nữa.

Bản chất kỹ thuật của sáng chế

Mục đích của sáng chế nhằm khắc phục các nhược điểm nêu trên. Cụ thể là, sáng chế nhằm mục đích đạt được các ưu điểm dưới đây:

- Tấm nâng hàng sẽ có kết cấu sao cho nó thích hợp để có thể được sản xuất ở hoặc ở gần địa điểm sử dụng. Không gian cất giữ các tấm nâng hàng có thể được giảm đáng kể theo cách này. Thay vào đó, vật liệu dạng các tấm hoặc cuộn có thể được cất giữ để sản xuất các tấm nâng hàng, chúng chiếm không gian nhỏ hơn nhiều.

- Tấm nâng hàng có khả năng mang tải rất tốt cả về mặt thực chất và đặc biệt là so với trọng lượng của chính nó.

- Việc chuyên chở các tấm nâng hàng chiếm nhiều không gian từ nhà sản xuất đến người sử dụng không cần đến nữa và được thay thế bằng việc chuyên chở vật liệu ban đầu, ví dụ chúng có thể gồm các chồng tấm các tông được hồ bột.

- Vấn đề về hậu cần trong việc sản xuất số lượng chính xác các tấm nâng hàng ở nơi cách xa nhà sản xuất tấm nâng hàng và chuyên chở và cất giữ các tấm nâng hàng này có thể không còn nữa. Thay vào đó, vật liệu ban đầu chiếm một không gian tối thiểu có thể được đặt hàng và cất giữ ngay cạnh máy ở hoặc ờ gần địa điểm sử dụng các tấm nâng hàng.

- Các tấm nâng hàng có thể trở nên rất nhẹ, điều này tạo thuận lợi cho việc chuyên chở nói chung và có nghĩa là có thể chuyên chở được nhiều tấm nâng hàng hơn.

- Do các tấm nâng hàng được làm từ vật liệu không được phủ chất dẻo nên các tấm nâng hàng này có thể được tái chế toàn bộ trong công nghiệp giấy. Bằng cách hồ bột thích hợp vật liệu nên các tấm nâng hàng được tạo ra hầu như không bị thấm nước. Nếu các tấm nâng hàng được dùng để tạo ra năng lượng bằng cách đốt cháy thì các khí sinh ra sẽ giống như khi xảy ra đốt cháy giấy.

- Các tấm nâng hàng có ưu điểm được dùng như các tấm nâng hàng sử dụng một lần, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp có các yêu cầu vệ sinh nghiêm ngặt.

- Khi các tấm nâng hàng đã dùng xong, chúng có thể được nghiền vụn hoặc ép và do vậy thể tích của chúng sẽ còn lại tối thiểu, trước khi vật liệu được tái chế hoặc đốt cháy.

- Theo phương án ưu tiên, tấm nâng hàng có thể được sản xuất từ một số lượng các chi tiết ít hơn, cụ thể hơn là từ các phôi dùng làm sàn và các phôi để sản xuất các dầm đế, chúng tạo được các ưu điểm về mặt hậu cầu và công nghệ sản xuất.

Sáng chế còn nhằm mục đích đề xuất phương pháp sản xuất tấm nâng hàng, và thiết bị sản xuất các dầm đế bắt đầu từ các phôi đã được chế tạo sẵn.

Sáng chế còn nhằm mục đích đề xuất phôi được làm thích ứng để sản xuất các dầm' đế.

Các mục đích và các ưu điểm nêu trên và khác nữa của sáng chế có thể đạt được nhờ sáng chế được đặc trưng bởi các dấu hiệu được xác định trong các điểm yêu cầu bảo hộ kèm theo dưới đây. Các dấu hiệu khác biệt, các khía cạnh và các ưu điểm của sáng chế sẽ được hiểu rõ từ phần mô tả dưới đây về tấm nâng hàng và phôi để sản xuất dầm đế theo hai phương án thực hiện, và về thiết bị sản xuất các dầm đế theo phương pháp được xem như một giai đoạn trong quá trình sản xuất các tấm nâng hàng.

Mô tả vắn tắt các hình vẽ

Sáng chế sẽ được mô tả chi tiết hơn dưới đây có dựa vào các hình vẽ kèm theo, trong đó:

Fig. Ì là hình vẽ phối cảnh của tấm nâng hàng theo phương án thực hiện thứ nhất của sáng chế theo hướng nhìn nghiêng từ trên xuống,

Fig. 2 thể hiện tấm nâng hàng trên Fig. Ì, theo hướng nhìn nghiêng từ dưới lên,

Fig. 3 là hình vẽ phối cảnh của bộ phận đỡ có trong tấm nâng hàng, Fig. 4 là hình vẽ phối cảnh của tấm nâng hàng theo phương án thực hiện thứ hai của sáng chế theo hướng nhìn nghiêng từ trên xuống,

Fig. 5 là hình chiếu cạnh của dầm đế có trong tấm nâng hàng theo phương án ưu tiên này,

Fig. 6 thể hiện dầm đế trên Fig. 5, nhìn theo hướng một cạnh dài, và theo tỷ lệ nhỏ hơn,

Fig. 7 là hình chiếu bằng của phôi để sản xuất dầm đế,

Fig. 8 là hình chiếu cạnh của sàn trước khi nó được nối với các dầm đế,

Fig. 9 là hình chiếu cạnh của thiết bị sản xuất các dầm đế từ các phôi trên Fig. 7,

Fig. 10 thể hiện các phần bên trên của thiết bị theo hướng mũi tên X trên Fig. 9 theo tỷ lệ lớn hơn, và

Fig. 11 là hình vẽ dạng sơ đồ thể hiện quy trình sản xuất các dầm đế.

Mo tả chi tiết các phương án thực hiện sáng chê

Tấm nâng hàng Ì theo phương án thực hiện thứ nhất của sáng chế bao gồm các phần chủ yếu sau, cụ thể là sàn 2 và các dầm đế 3, theo phương án này có ba dầm đế, chúng tạo thành các chân của tấm nâng hàng 1. Theo phương án này, vật liệu để làm tấm nâng hàng này đều là các tông được hổ bột.

Sàn 2 được sản xuất từ một tấm các tông phang được hồ bột đã được vạch ngấn và gấp lại để tạo thành một bề mặt sàn 4 gồm các panen chính 5 song song và các panen ở mép 6 song song với các panen chính. Vật liệu thích hợp là các tông không được phủ chất dẻo bao gồm vài lóp được hồ bột, mỗi lớp gồm các tông thuần tuy không được phủ chất dẻo, tức là các tông đã được hồ bột toàn bộ. Theo phương án ưu tiên, các tông nhiều lớp có trọng lượng riêng vào khoảng 1100 g/m2. Tấm tạo thành sàn 2 tiếp tục được gấp sao cho mặt dưới của sàn 2 có các phần nhô 8 song song theo chiều dọc. Mặt cắt ngang của các phần nhô 8 có khoảng cách theo phương nằm ngang tăng dần từ vị trí gần với bề mặt sàn 4 xuống dưới về phía đáy 9 của các phần nhô này, đáy 9 này tạo thành một bề mặt nâng cho các chạc nâng. Nói chính xác hơn, các phần nhô 8 có mặt cắt ngang hình tam giác, có đáy 9 tạo thành bề mặt nâng nêu trên. Các hình tam giác này là các hình tam giác cân và hai mặt bên được biểu thị bằng các số chỉ dẫn lo, 11 nghiêng lên trên và vào trong về phía đỉnh của hình tam giác. Do vậy, các panen chính 5 và các panen ở mép 6 của bề mặt sàn 4 tiếp giáp với nhau ở các đỉnh của các hình tam giác nêu trên, nơi hai mặt bên nghiêng 10, 11 của hình tam giác gặp nhau. Theo phương án này, góc ở đỉnh VI của hình tam giác vào khoảng 30°.

Theo phương án này, các dầm đế hoặc các chân 3 là các tông được hổ bột, vạch ngấn và gấp lại. Theo mặt cắt ngang, các dầm đế 3 có hình dạng là các hình tam giác cân có đáy 15 và các mặt bên nghiêng 16, 17. Theo phương án này, góc ở đỉnh V2 cũng vào khoảng 30°. Các mặt bên 16, 17 của các chân 3 dài gần gấp ba lần các mặt bên 10, 11 của các phần nhô 8 của sàn. 5-

Các rãnh hình tam giác 21 được tạo ra trong các dầm đế/các chân 3, bắt đầu từ đỉnh 20, kéo dài xuống dưới một khoảng nào đó ở phần trên của các dầm đế. Các rãnh 21 này có kích thước và hình dạng giống như mặt cắt ngang bên ngoài của các phần nhô 8 trên mặt dưới của sàn 2. Các rãnh 21 được bố trí trong các dầm đế 3 theo sự phân bố tương ứng với bề rộng của các panen chính 5 trên bề mặt sàn 4. Theo cách này, sàn 2 có thể được nối bằng cách ghép mộng đuôi én với các dầm đế 3 nhờ các phần nhô 8 được đẩy vào trong các rãnh 21 trong các dầm đế. Hình dạng tam giác của các phần nhô 8 được giữ theo cách này, và đồng thời sàn 2 được giữ chặt trong các dâm đế, bằng cách ghép mộng đuôi én, mà không cần sử dụng các chi tiết liên kết hoặc bất kỳ một chi tiết gắn nào khác ngoài chính các phần ghép mộng đuôi én này, tức là các phần nhô 8 và các rãnh 21.

Các khoảng trống 23 dùng cho các chạc nâng được tạo thành ở bên dưới các phần nhô 8 và ở giữa các dầm đế/các chân 3, nhờ đó các chạc nâng sử dụng đáy 9 của các phần nhô 8 làm bề mặt nâng.

Các bộ phận tăng cứng 25 được đưa vào trong các dầm đế 3 ở các khoảng trống bên dưới các phần nhô 8 để làm tăng cứng các dầm đế/các chân 3. Fig. 3 là hình vẽ phối cảnh thể hiện bộ phận tăng cứng và tạo độ ổn định 25, theo tỷ lệ lớn hơn. Bộ phận tăng cứng này cũng làm bằng các tông được hồ bột và được vạch ngấn và gấp lại sao cho các hình tam giác xiên 26, 27 và 28 được tạo ra xen kẽ vào bên trái và bên phải. Bộ phận tăng cứng được luồn vào trong các chân 3 bên dưới các phần nhô 8 trên sàn 2, sao cho đáy 29 của bộ phận tăng cứng tỳ lên đáy 15 của dầm đế/chân 3, đồng thời mặt trên phảng 30 của nó ép tỳ vào đáy 9 của phần nhô 8. Các mặt bên ngoài 31 của các hình tam giác 26 và 28 đỡ tỳ vào bên trong mặt bên 16 của các chân 3, đồng thời mặt bên ngoài 32 tương ứng của hình tam giác 27 đỡ tỳ vào mặt bên 17 của các chân. Các góc 33, 34 của các hình tam giác 26, 27, 28 được đưa vào các góc bên dưới của các chân 3. Theo cách này, các bộ phận tăng cứng 25 giúp cho các chân 3 khả năng mang tải tốt hơn nhiều.

Các tấm nâng hàng Ì có dạng được mô tả trên đây có thể được nối với nhau để tạo thành các tấm nâng hàng lớn hơn theo cả chiều dọc các panen 5, 6 cũng như chiều ngang của chúng, tức là theo chiều dọc các dầm đế 3. Trong trường hợp thứ nhất, các tấm nâng hàng Ì có thể được nối với nhau nhờ sự trợ giúp của các thanh hình tam giác được luồn vào trong các phần nhô 8 hình tam giác trên sàn 2 và sao cho chúng kéo dài giữa các tấm nâng hàng được nối như vậy. Tốt hơn là, các thanh hình tam giác này là các tông được hồ bột đã được gấp lại để tạo thành các hình tam giác. Trong trường hợp thứ hai, các tấm nâng hàng Ì có thể được nối nhờ sử dụng các bộ phận tăng cứng kéo dài có kết cấu cơ bản tương tự như bộ phận tăng cứng 25, được luồn vào trong các dầm đế/các chân 3 trong các tấm nâng hàng Ì liền kề được nối với nhau và sao cho chúng kéo dài giữa các tấm nâng hàng được nối như vậy. Tất nhiên hai phương án lựa chọn này có thể được kết họp với nhau.

Tấm nâng hàng theo phương án thực hiện thứ hai của sáng chế được thể hiện trên Fig. 4 và là một ví dụ về tấm nâng hàng được gọi là tấm nâng hàng một nửa. (Tấm nâng hàng được thể hiện trên Fig. Ì và Fig. 2 là ví dụ về tấm nâng hàng gọi là tấm nâng hàng một phần tư). Điểu đó có nghĩa là các dầm đế dài hơn và số lượng các phần nhô trên mặt dưới của sàn và các rãnh tương ứng ở phần trên của các dầm đế đều được tăng một cách tương ứng. Các số chỉ dẫn giống nhau cũng được dùng cho các bộ phận tương ứng được mô tả trong tấm nâng hàng theo phương án được thể hiên trên các hình vẽ từ Fig. Ì đến Fig. 3, vì vậy các bộ phận này không được mô tả chi tiết ở đây, và thay vào đó cần tham khảo phần mô tả trên đây liên quan đến phương án thực hiện thứ nhất. Đối với các bộ phận tương ứng, song kết cấu của chúng đã được sửa đổi, các số chỉ dẫn giống hệt như trên đây được sử dụng, nhưng có bổ sung dấu

Sự khác biệt so với phương án trên đây là ở kết cấu của các bộ phận đỡ hoặc tăng cứng 25' trong các dầm đế 3'. Khi các bộ phận tăng cứng 25 theo phương án trên đây là các cụm riêng biệt được đưa vào trong các dầm đế sau khi tạo ra chúng, còn các bộ phận đỡ 25' được tạo liền khối với các dầm đế 3' từ khi bắt đầu và quan trọng hơn cả là thể hiện các cải tiến về về công nghệ sản xuất, hậu cần và các chi phí. Kết cấu của dầm đế 3' được thể hiện chi tiết hơn trên Fig. 5. Bộ phận đỡ 25' chỉ đơn giản là một ống trong 37 có hình dạng là một hình thang cân có hình dạng bên ngoài tương ứng với hình dạng của phần dưới của dầm đế 3'. Nói chính xác hơn, bộ phận đỡ 25' bao gồm vài vòng cuốn ở bên trong bằng vật liệu làm dầm đế 3'. Nghĩa là bộ phận đỡ 25' được tạo ra từ hai lớp trong 38, 39 và 40, 41 trên bề mặt của các mặt bên nghiêng của dầm đế một cách tương ứng, và hai lớp 42, 43 ở phần trên của bộ phận đỡ 25'. Các lớp thành bên 38, 39 và 40, 41 được tạo liền khối tương ứng với các lớp bên ngoài 44, 45 của dầm đế 3' trên bề mặt của hai mặt bên nghiêng 16, 17. Phần đáy 15 gồm có hai lớp, hoặc ở một vùng có ba lớp 46, 47, 48. Phần trên 49 của dầm đế chỉ gồm một lớp, cụ thể là phần kéo dài liên tục của hai lớp bên ngoài 44, 45, và tạo thành một ống hoặc đường rãnh bên trên 50 có mặt cắt ngang hình tam giác ở bên trên bộ phận đỡ 25'. Các rãnh 21 dùng cho các phần nhô 8 trên sàn 4 được tạo ra ở phần trên 49 này. Các lớp 38, 39 và 44, và các lớp 40, 41 và 45, một cách tương ứng, có nghĩa là các lớp trên bể mặt của hai mặt bên nghiêng 16 và 17, được liên kết với nhau bằng keo dán, làm tăng thêm độ bền khi dầm được làm liền khối.

Việc liên kết các lớp khác nhau của bộ phận đỡ 25' với các lóp bên ngoài của bộ phận đáy 3', khiến cho các lớp bên ngoài của dầm đế và bộ phận đỡ sẽ tạo thành một cụm liên kết liền khối, làm tăng đáng kể độ bền cho dầm đế 3' và làm tăng khả năng đỡ sàn 2 của bộ phận đỡ 25', khi sàn 2 này tỳ lên bộ phận đỡ 25' qua các phần nhô 8. Trên thực tế, bộ phận đỡ 25' tạo thành một ống trong bên dưới 37 trong dầm đế 3' cũng cho phép nhiều tấm nâng hàng r được lắp ráp với nhau để tạo thành các cụm tấm nâng hàng lớn hơn nhờ các bộ phận nối được luồn qua các ống trong 37 này.

Các ưu điểm về công nghệ sản xuất đã nêu trên đây và sẽ được mô tả thêm ở phần mô tả về công nghệ sản xuất tấm nâng hàng r dưới đây và cụ thể là công nghệ sản xuất các dầm đế 3'.

Công nghệ sản xuất tấm nâng hàng theo phương án ưu tiên của sáng chế sẽ được mô tả dưới đây.

Fig. 7 thể hiện phôi 52 để sản xuất dầm đế 3'. Nó bao gồm một tấm các tông hình chữ nhật được chia ra bởi các đường gấp nếp nằm ngang song song, thành các panen song song 46, 38, 42 và các panen khác, được biểu thị bằng các số chỉ dẫn giống hệt như các số chỉ dẫn của các lớp khác nhau trong dầm đế 3' và đã được mô tả trên đây có dựa vào Fig. 5. Hai panen "ngoài cùng" 44, 45 sẽ tạo thành các lốp bên ngoài ở hai thành nghiêng 16 và 17, và sẽ tạo thành phần trên 49, có một dãy các lỗ 21X và 21 y, một cách tương ứng, được phân bố dọc theo đường gấp nếp 20a trùng với đỉnh 20 của dầm đế 3'. Hình dạng và kích thước của các lỗ 21x và 21 y phải sao cho khi dầm 3' được tạo ra đến hình dạng cuối cùng của nó và được đặt ở trạng thái đỉnh 20 hướng lên trên, nhô trên mặt phảng chính giữa thẳng đứng qua dầm này thì các lỗ 21X và 2ly này phải tương ứng với mặt cắt ngang bên ngoài của các phần nhô 8. Do vậy, các lỗ 21x và 21 y này có hình dạng là các hình tam giác có chiều cao hxy, trong đó h Cos- 2 trong đó h là chiều cao của các phần nhô 8, xem Fig. 8, và V2 là góc ở đỉnh của dầm đế 3'.

Đáy 53 của các rãnh 21x và 21 y tương ứng với độ dài của đáy 9 của các phần nhô 8, bản thân điều này có nghĩa là góc ở đỉnh V3 của các lỗ 21x và 21 y có phần hơi nhỏ hơn góc ở đỉnh VI của các phần nhô 8 phù hợp với các phép tính lượng giác đơn giản.

Các lỗ 21x và 21y được nối với nhau qua một khe hẹp 54 ngang qua đường gấp nếp 20a. Chiều cao hxy của các rãnh 21x và 2ly từ đường gấp nếp 20a nhỏ hơn một nửa bề rộng của các panen 44 và 45, chính xác là vào khoảng một phần ba bề rộng của các panen 44 và 45.

Tất cả các panen khác, tức là tất cả các panen ngoài hai panen "ngoài cùng" 44, 45, đều hoàn toàn không có các lỗ.

Fig. 9 và Fig. 10 thể hiện dưới dạng sơ đổ thiết bị 60 để sản xuất các dầm đế 3' từ các phôi 52 trên Fig. 7, với một số chi tiết nhất định được loại ra khỏi các hình vẽ này để cho các dấu hiệu cơ bản có thể được thấy rõ hơn. Vành 62 được lắp trên giá đỡ 61 sao cho nó có thể quay xung quanh ba trục đỡ 63, 64, 65 được lắp quay được trên giá đỡ 61. Trên mặt bên ngoài của vành 62 này có rãnh đai hình chữ V 66 để lắp đai hình chữ V 67 có thể được dẫn động bởi động cơ 68 qua bánh dẫn động 69 để quay vành 62 này, xem Fig. 10, không được thể hiện trên Fig. 9.

Giá mang, nói chung được biểu thị bằng số chỉ dẫn 70, kéo dài theo phương nằm ngang hướng ra ngoài từ vành 62. Giá mang 70 này bao gồm ống trong 71, ống ngoài 72, trục vít ở giữa 73 và các bạc 74, 75 ở các đầu. Kết cấu này cho phép sức bền uốn của cụm giá mang 70 cao, đồng thời cho phép ống ngoài 72 có thể được quay xung quanh ống trong 71.

Cặp đòn bẩy hai tay đòn 77 được lắp trên ống ngoài 72, ở gần các đầu bên ngoài của nó, sao cho chúng có thể được quay cùng với ống ngoài 72 xung quanh trục tâm 78 của nó. Trục ép 81, quay về phía tâm vành 62, được lắp quay được giữa hai tay đòn bên ngoài 79 và được bố trí để ép theo hướng về phía tâm vành 62 dưới tác dụng của xi lanh khí nén 82, xi lanh này có tác dụng như một lò xo nén và tác động lên hai tay đòn 80 kia. Xi lanh khí nén 82 được lắp xoay được trên vành 62.

Chi tiết 84 cũng kéo dài theo phương nằm ngang hướng ra ngoài từ giá đỡ 61 song song với giá mang 70 và trục ép 81, và nó kéo dài đến bằng đầu bên ngoài của trục ép 81. Chi tiết 84 ở đây được xem như là lõi trong do nó được tham gia để tạo thành một thanh đỡ đối tiếp trong quá trình cuốn phôi 52 thành ống, trước quá trình cuốn ống trong 37 để tạo thành bộ phận tăng cứng/bộ phận đỡ 25'. Lõi 84 có đường bao ngoài tương ứng với hình dạng bên trong của bộ phận đỡ 25'/ống trong 37, tức là nó có hình dạng là một hình thang cân.

Ngoài ra, còn có lõi ngoài thứ hai 85 có hình dạng là hình tam giác theo mặt cắt ngang với đường bao tương tự như đường rãnh 50 ở phần trên của dầm đế 3'. Lõi ngoài 85 này được bố trí, trong thiết bị 60, bên dưới lõi trong 84 và có thể được dịch chuyển lui và tiến theo phương nằm ngang nhờ sự trợ giúp của xi lanh dẫn động bằng đai 86 (còn được gọi là xi lanh Origa®). Các trục đỡ trên và dưới dùng cho lõi ngoài 85 được biểu thị bằng các số chỉ dẫn 87, 88. Fig. 9 thể hiện lõi 85 vị trí làm việc tiến ra của nó, ở đó đầu trước của nó được nối với lõi trong 84 nhờ chốt 89 gài vào trong lỗ (không được thể hiện) ở đầu ngoài của lõi 85 này. Chốt 89 được đỡ, theo cách sao cho nó có thể dịch chuyển sang bên được, bởi giá kẹp 90 ở đầu ngoài của lõi trong 84 và cố định hai lõi 84, 85 với nhau ở vị trí làm việc của lõi ngoài 85 này. Lõi ngoài 85 có thể được dẫn hướng vào và ra khỏi vị trí làm việc của nó thông qua vành 62 nhờ sự trợ giúp của xi lanh dẫn động bằng đai 86. Ngoài ra, còn có hai súng phun keo được biểu thị ở dạng sơ đồ bằng số chỉ dẫn 92 trên Fig. 11. Chúng cũng có thể dịch chuyển lui và tiến được thông qua vành 62 nhờ sự trợ giúp của các chi tiết dịch chuyển, ví dụ xi lanh dẫn động bằng đai, theo cùng cách thức như lõi ngoài 85.

Việc sản xuất dầm đế 3' sẽ được mô tả cũng dựa vào Fig. 11. ở vị trí bắt đầu, vành 62 ở vị trí được thể hiện trên Fig. 10, tương ứng với giai đoạn A trên Fig. 11. Phôi 52 được dẫn hướng nhờ panen 46 vào trong rãnh 93 trong lõi trong 84. Hoạt động của thiết bị 60 được điều khiển bởi bộ vi xử lý (không được thể hiện) kết hợp với các cảm biến (không được thể hiện). Từ vị trí bắt đầu được thể hiện ở giai đoạn A, vành 62 được xoay theo chiều kim đồng hồ, và trục ép 81 dẫn hướng phôi 52 xuống dưới nhờ panen 38 nằm trên mặt bên nghiêng thứ nhất của lõi 84, đây là giai đoạn B. Ố giai đoạn tiếp theo là giai đoạn c, panen hẹp thứ nhất 42 được gấp lại ở bên dưới lõi 84. Sau đó, ở giai đoạn D, panen 40 được gấp lại nhờ trục ép 81 hướng lên tỳ vào mặt bên nghiêng thứ hai của lõi 84. Vòng cuốn thứ nhất được hoàn thành ở giai đoạn 'í- E, khi panen 47 được gấp lại trên lõi 84. ơ vị trí này, vành 62 dừng lại theo sự điều khiển của các cảm biến (không được thể hiện). Các súng phun keo 92 được dẫn hướng thông qua vành 62 nhờ các chi tiết dịch chuyển và giá mang (không được thể hiện). Các súng phun keo 92 này được tiến ra đến đầu của lõi -li-

84 và sau đó chạy ngược trở lại. Trong khi dịch chuyển tiến và quay trở lại, các panen 38 và 40 được phun keo. Sau đó, vành 62 được quay tiếp một vòng nữa, các giai đoạn F, G, H và ì. Trong quá trình các giai đoạn này, các panen 39, 43, 41 và 48 được gấp lại tỳ vào các mặt tương ứng, với vật liệu ở các panen 39 và 41 được liên kết với các panen 38 và 40 nhờ các dải keo được phun lên đó ở giai đoạn E. ơ giai đoạn ì, vành 62 một lần nữa lại được dừng lại. Các súng phun keo 92 được dẫn hướng một lần nữa thông qua vành 62 và phun keo lên các panen 39 và 40 trong quá trình dịch chuyển quay trở lại. Lõi ngoài 85 được dẫn hướng vào vị trí bên dưới lõi trong 84 và được cố định ở vị trí này bởi chốt 89 nêu trên, xem Fig. 9. Sau đó, phần vật liệu còn lại, các nếp gấp 44 và 45 có các lỗ 21x và 21y, được gấp lại, ở các giai đoạn J và K, và được cố định vào các panen 39 và 41 đã được phủ keo. Lõi ngoài 85 được rút ra khỏi đường rãnh 50 có dạng hình tam giác vừa được tạo ra. Cuối cùng, vành 62 được xoay vế vị trí bắt đầu của nó là giai đoạn L, trong đó trục ép 81 tỳ sát vào đáy 15 của dầm đế 3' vừa được tạo ra. Chốt 89 được dịch chuyển sang bên và dầm đế 3' hoàn chỉnh được rút ra khỏi thiết bị 60 về phía bên phải trên Fig. 9.

Sàn 2 cũng được sản xuất từ phôi đã vạch ngấn được gấp lại để tạo hình dạng như được thể hiện trên Fig. 8. Cuối cùng, sàn 2 này được nối với các dầm đế 3', gồm có ba dầm theo phương án thực hiện này, nhờ các phần nhô 8 có dạng hình tam giác được đưa vào trong các rãnh 21 ở phần trên 49 của dầm đế.

Cần hiểu rằng sáng chế có thể được thay đổi trong phạm vi của yêu cầu bảo hộ kèm theo đây. Ý tưởng cơ bản của kết cấu tấm nâng hàng này là khả năng mang tải của tấm nâng hàng trước hết được xác định bởi độ bền của các phần dưới của các dầm đế 3,3', còn phần trên của các dầm đế chủ yếu dùng để cố định sàn 2 vào các dầm đế 3, 3'. Do đó, vật liệu làm các dầm đế đã được tập trung ồ phần dưới này, theo phương án im tiên, độ dày của nó bao gồm ba lóp và do vậy, cùng với các panen liên kết 42, 43, sẽ tạo thành bộ phận đỡ khoe cho các phần nhô 8 trên sàn. Theo cách khác, bộ phận đỡ 25 riêng biệt được đưa như một bộ phận đỡ vào trong các dầm đế. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các phương án thực hiện đã được thể hiện chỉ là các ví dụ và không làm hạn chế phạm vi yêu cầu bảo hộ của sáng chế này. Ngoài ra, cũng có thể thấy rằng hình dạng của các dầm đế 3, 3' thực tế có thể được thay đổi. Mặt cắt ngang của các dầm đế tốt nhất là hình tam giác, và nó có im điểm đặc biệt là các mặt bên của các dầm đế được làm nghiêng. Hình dạng này, vốn có lợi theo quan điểm về độ bền, cũng có thể đạt được nhờ sử dụng các dầm đế mà mặt cắt ngang của chúng là một hình thang cân có các thành nghiêng và có đáy nhỏ được hướng lên trên, tỳ sát vào mặt trên của sàn 4, và các rãnh dành cho các phần nhô 8 cũng kéo dài qua mặt trên này của các dầm đế. Ngoài ra, cũng có thể thấy rằng vật liệu khác ngoài các tông có thể được sử dụng để sản xuất sàn và các dầm đế. Ví dụ, có thể tạo ra sàn và các dầm đế nhờ sử dụng các tấm chất dẻo, tốt nhất là sử dụng chất dẻo tái sinh, có các đường gấp nếp được tạo ra nhờ các rãnh trong các tấm chất dẻo này. Trong trường họp này, các lóp khác nhau trong các dầm đế có thể được cố định với nhau nhờ hàn kín bằng nhiệt chẳng hạn. Phương pháp sản xuất tấm nâng hàng và cụ thể là các dầm đế cũng có thể được thay đổi. Ví dụ, thay vì cuốn phôi xung quanh các lõi đứng yên, có thể quay các lõi xung quanh một trục tâm, kéo phôi đứng yên theo cách khác.

10. Nội dung có thể chuyển giao
11. Thị trường ứng dụng
12. Hình ảnh minh họa
In bài viết
Các phát minh, sáng chế khác
 
Banner
Banner home right