Trang chủ Bằng phát minh, sáng chế • Liên hệ     • Giới thiệu     • Tài liệu hướng dẫn

Phương pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ bằng nitơ lỏng trên tàu đánh bắt cá

Cập nhật Thứ ba - 13/06/2017 10:40 In bài viết

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Phương pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ bằng nitơ lỏng trên tàu đánh bắt cá
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0016593
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ sinh học (Sáng chế)
4. Ngày công bố 27/03/2017
5. Ngày cấp 27/03/2017
6. Chủ sở hữu chính Nguyễn Đăng Lương, Trịnh Văn Sơn
7. Tác giả Nguyễn Đăng Lương, Trịnh Văn Sơn
8. Điểm nổi bật
Sáng chế đề cập đến phương pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ bằng nitơ lỏng trên tàu đánh bắt cá bao gồm các bước: gây sốc điện để làm ngất cá; đặt cá lên bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá; lấy kiệt máu cá ra; loại bỏ nội tạng, mang; bơm cấp một lượng nitơ lỏng đã được định lượng trước vào trong khoang bụng cá nhằm làm bất hoạt ngay toàn bộ mọi cơ chế hoạt động sinh hoá của tế bào não, tuy sống và của các loại vi khuẩn và enzym vốn có sẵn trong nội tạng mà có thể gây hư hỏng thịt cá, đồng thời cấp đông cá từ bên trong; cấp đông và trừ đông cá bằng cách phun nitơ lỏng đều khắp thân cá để tạo ra hiệu ứng cấp đông cá từ ngoài vào, và mạ băng.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp

Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập

Sáng chế đề cập đến phương pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ bằng nitơ lỏng trên tàu đánh bắt cá, thay thế cho việc xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ bằng cách ngâm trong nước muối lạnh và chườm nước đá như đang áp dụng hiện nay.

Tình trạng kỹ thuật của sáng chế

Hiện nay, ngư dân Việt Nam đang sử dụng những loại tàu nhỏ, trang thiết bị thô sơ đóng bằng gỗ, công suất động cơ 90 + 400 cv để ra khơi, đánh bắt cá ngừ ở những vùng biển xa bờ. Do quy cách tàu nhỏ, cả về tải trọng, khối tích và công suất, nên không thể lắp đặt trên tàu những cụm thiết bị cấp đông hiện đại như các loại tàu lớn chuyên đánh bắt cá biển xa của nước ngoài. Khi ra khơi đánh bắt, tàu luôn phải chở theo một lượng lớn nước đá để bảo quản sản phẩm sau khi đánh bắt. Để bảo quản 1 tấn cá ngừ cần khoảng 3 tấn nước đá. Loại tàu nhỏ nhất, công suất động cơ 90 ÷ 150 CV phải chở theo khoảng 10 tấn nước đá; loại tàu lớn, công suất động cơ 250 400 cv, phải chở theo khoảng 20 tấn nước đá và cũng chỉ sử dụng được tối đa 20-25 ngày. Việc chở theo nước đá trong suốt hành trình cũng dẫn đến tiêu hao xăng dầu do làm tăng tải trọng tàu, hạn chế sản lượng cá đánh bắt được do nước đá chiếm một không gian mà có thể dùng để trữ thêm lượng cá đánh bát được.

Phương pháp xử lý và bảo quản cá ngừ sau khi đánh bắt trên các loại tàu nêu trên cũng rất thô sơ. Cá ngừ đánh bắt được sau khi đưa lên boong bị đập vào đầu đến chết và sau đó ướp lạnh bằng nước đá. Hiệu quả của việc ướp lạnh bằng nước đá là thấp vì sự chênh lệch nhiệt độ để trao đổi nhiệt giữa nước đá và thân cá là không nhiều. Hơn nữa, việc trao đổi nhiệt để làm lạnh toàn thân cá lại chỉ diễn ra theo một chiêu là thấu lạnh từ ngoài vào. Kết quả, việc ướp lạnh bằng 16593 nước đá khiến cá chỉ được bảo quản ở khoảng 0°c hoặc âm một vài độ, mà không thể đạt độ lạnh sâu như khi dùng các máy cấp đông, do đó độ tươi và giá trị cảm quan của cá giảm, dẫn đến giá bán thấp.

Các loại sản phẩm cá ngừ tốt nhất hiện đang được thị trường Nhật Bản chấp nhận phải được sơ chế và bảo quản qua các công đoạn:

1. Giết cá: đập vào đầu cho cá ngất; phá hủy bộ não và tủy sống trong ống dây thần kinh chạy dọc trong xương sống nhằm ngăn chặn những phản ứng sinh hóa gây hư hỏng.

2. Lấy máu: cắt, trích vào những huyệt mạch để lấy máu cá ra, nhằm làm cho thịt cá sáng màu, tạo giá trị cảm quan.

3. Loại bỏ nội tạng, nơi chứa nhiều loại vi khuẩn, enzym có khả năng phân hủy nhanh.

4. Cắt bỏ những bộ phận thường có vi sinh khu trú: mang cá, khớp nối giữa mang và hàm dưới, màng nhầy giữa mang và cô mang, khớp nối giữa mang và hộp sọ.

5. Làm sạch: chà, rửa bên trong và bên ngoài.

6. Ngâm trong nước muối lạnh, trong thời gian dài từ 10 đến 24 giờ tuy theo trọng lượng cá, nhăm hạ nhiệt độ đồng đều toàn khối thân cá.

7. Đưa vào ướp nước đá để bảo quản.

Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là thời gian ngâm trong nước muôi lạnh kéo dài và cũng chỉ có thể khiến nhiệt độ thân cá hạ xuống tới khoảng 0°c hoặc cùng lắm cũng chỉ tới âm một vài độ, mà không thể hạ nhiệt độ xuống sâu hơn, trong khi tiêu chuẩn bảo quản thủy hải sản quốc tế quy định là -25 c.

Bản chất kỹ thuật của sáng chế

Sáng chế đề xuất phương pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ bằng nitơ lỏng trên tàu đánh bắt cá, thay thế cho việc bảo quản và trữ đồng bằng cách ngâm trong nước muối lạnh và ướp nước đá đang áp dụng như hiện nay. 16593

Do nitơ lỏng là tác nhân làm lạnh cực mạnh (-196°C), nên các mô sống bị cứng lại ngay lập tức khi tiếp xúc với nó. Khi nitơ lỏng hóa hơi, lại chính là môi trường yếm khí nên sẽ không gây hiệu ứng oxy hóa, sẽ đặc biệt tăng giá trị sản phẩm cả về chất lượng và cảm quan như bảo lưu được toàn bộ các chất quý và giữ trọn vẹn được màu tươi nguyên thủy của sản phẩm tươi sống. Trên cơ sở đó, các tác giả sáng chế đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cho tàu đánh bắt cá ngừ giúp nhanh chóng đạt tới mức tiêu chuẩn bảo quản thủy hải sản quốc tế quy định là -25°c, và nếu cần có thể bảo quản lạnh sâu hơn nữa, bằng cách phối hợp cấp đông hai chiều từ trong ra và từ ngoài vào. Cụ thể là, một lượng nitơ lỏng được bơm thẳng vào sâu trong khoang bụng cá để làm bất hoạt ngay lập tức các tế bào/các mô cơ thần kinh, kể cả các loại vi khuẩn và enzym; sau đó đưa cá vào khoang cấp đông và trữ đông để thực hiện việc cấp đông từ ngoài vào bằng cách phun nitơ lỏng lên khắp bề mặt ngoài của thân cá. Việc định lượng nitơ lỏng trên cơ sở trọng lượng cá để bơm vào khoang bụng cá nhằm cấp đông cá từ bên trong được thực hiện một cách tự động bởi mạch điện tử nối điện với bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá, và việc bơm nitơ lỏng vào khoang bụng cá được thực hiện bởi cần bơm được tạo kết cấu thích hợp.

Cụ thể, phương pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ bằng nitơ lỏng trên tàu đánh bắt cá theo sáng chế bao gồm các bước:

- gây sốc điện để làm ngất cá ngay khi cá được đưa lên boong tàu;

- đặt cá lên bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá để lấy thông số trọng lượng cá đưa vào một mạch điện tử được kết nối điện với bàn này, trên cơ sở số liệu trọng lượng cá được tiếp nhận, mạch điện tử này sẽ tính được lượng nitơ lỏng cần lấy để bơm vào khoang bụng cá nhằm phục vụ cho việc cấp đông cá từ bên trong;

- lấy kiệt máu cá ra bằng cách cắt, trích theo quy cách ở những vị trí quy định trên thân cá; 16593 - loại bỏ nội tạng, mang và những bộ phận chứa, tích tụ nhiều loại vi khuẩn và những loại enzym gây phân hủy thịt cá, nhưng không cần phá huy não, tủy sống trong ống dây thần kinh chạy dọc trong xương sống;

- cấp đông cá từ bên trong: luôn cần bơm vào sâu trong khoang bụng cá để hút những thứ còn tôn lưu trong bụng cá ra, sau đó bơm cấp đủ lượng nitơ lỏng đã được định lượng trước tương ứng với trọng lượng cá vào trong khoang bụng cá nhằm làm bất hoạt ngay toàn bộ mọi cơ chế hoạt động sinh hoa của tế bào não, tuỷ sống và của các loại vi khuẩn và enzym vốn có sẵn trong nội tạng mà có thể gây hư hỏng thịt cá, đồng thời cấp đông cá từ bên trong, trong đó toàn bộ quá trình hút những thứ còn tồn lưu trong bụng cá ra và sau đó bơm cấp đủ lượng nitơ lỏng vào trong khoang bụng cá được thực hiện bằng cách vận hành bơm được kết nối điện với mạch điện tử, bơm này được nôi với cần bơm có câu tạo dạng ống lồng bao gồm:

+ ống cấp nitơ lỏng vào trong khoang bụng cá, + ống hút dịch tồn lưu gồm đoạn ống bao lồng bên ngoài ống cấp nitơ lỏng, phần ống bao ở đầu cần bơm làm bằng nhựa dẻo, mềm, và có nhiều khe hút song song, không gian giữa ống cấp nitơ lỏng và đoạn ống bao tạo thành một đường dẫn dịch hút từ khoang bụng cá ra ngoài, và + trên ống cấp nitơ lỏng và ông hút dịch đều có van điện từ tương ứng, các van điện từ này được điều khiển đóng/mở tuần tự một cách tự động nhờ mạch điện tử sau khi bóp công tắc bám trên cần bơm, trong đó:

sau khi luồn cần bơm vào khoang bụng cá, bóp công tắc bấm, lúc này mạch điện tử cấp dòng điện để mở van điện từ của ống hút dịch đế hút những thứ còn tồn lưu trong bụng cá ra, còn van điện từ của ống cấp nitơ lỏng đóng, bước hút dịch tồn lưu này được không chế bởi một mạch điện tử định thời lượng tích hợp trong mạch điện tử, mạch điện tử định thời lượng này bắt đầu đếm số giây ngay sau khi bóp công tắc bấm, khi đã đủ thời lượng ấn định thì mạch điện tử sẽ ngắt dòng điện để đóng van điện từ của ống hút dịch đồng thời cấp điện để mở van điện từ của ống cấp nitơ lỏng để bơm một lượng nitơ lỏng đã được định 16593 lượng trước trên cơ sở trọng lượng cá vào bên trong khoang bụng cá, khi lượng nitơ lỏng định trước đã được bơm hết vào khoang bụng cá, mạch điện tử sẽ tự động ngắt điện toàn bộ cân bơm; và - cấp đông cá từ bên ngoài và trữ đông cá: đưa cá sau khi đã được cấp đông từ bên trong vào khoang cấp đông và trữ đông dưới hầm tàu, phun một lượng nitơ lỏng đều khắp thân cá để tạo ra hiệu ứng cấp đông cá từ ngoài vào cho đến khi đạt nhiệt độ bảo quản đặt theo yêu cầu, sau đó tạo lớp mạ bằng trên bề mặt thân cá nhằm giảm sự thất thoát độ lạnh khi dỡ và trung chuyển cá, trong đó việc theo dõi nhiệt độ trong khoang cấp đông và trữ đông được thực hiện bởi cảm biến nhiệt độ và trong quá trình vận hành, cảm biến này sẽ tác động đóng/mở van điện từ trên ống cấp nitơ nhằm điều tiết lượng nitơ lỏng cấp vào giàn phun để điều chỉnh nhiệt độ của khoang cấp đông và trữ đông về nhiệt độ đặt trước.

Mô tả văn tắt các hình vẽ

Dưới đây, sáng chế sẽ được mô tả một cách chi tiết có dựa vào các hình vẽ sau:

Hình 1 là hình vẽ minh họa tàu đánh bắt cá ngừ theo một phương án của sáng chế;

Hình 2 là hình vẽ minh họa cụm xử lý sơ bộ cá và bơm nitơ lỏng vào phía trong khoang bụng cá;

Hình 3 là hình vẽ minh họa kết cấu của cần bơm nitơ lỏng vào trong khoang bụng cá;

Hình 4 là hình vẽ minh họa kết cấu một phương án của khoang cấp đông và trữ đông cá ngừ;

Hình 5 là hình vẽ minh họa kết cấu một phương án của khoang cấp đông và trữ đông cá ngừ được thiết kế theo môđun; và

Hình 6A và hình 6B là các hình vẽ minh họa cách bố trí các môđun cấp đông và trữ đông trên tàu đánh bắt cá ngừ. 16593

Mộ tả chi tiết sáng chế

Như được thể hiện trên Hình 1, tàu đánh bát cá ngừ bao gồm boong tàu A, khoang hầm B ở phía trước tàu và khoang hầm ở phía đuôi tàu c. Boong tàu A là nơi xử lý cá mới đánh bất từ biên lên, bao gồm các bước gây sốc điện làm cá ngất; đặt cá lên bàn thao tác kiêm bàn cân trọng lượng; cắt, trích lấy máu cá ra; loại bỏ nội tạng, mang và những bộ phận khác chứa nhiều vi khuẩn và enzym dễ gây hỏng cá; hút nước và những thứ còn tồn lưu trong bụng cá; bơm cấp nitơ lỏng vào trong khoang bụng cá. Khoang hầm B là nơi cấp đông cá từ bên ngoài và trữ đông cá. Khoang hâm C ở phía đuôi tàu là nơi lắp đặt động cơ và máy phát điện, đồng thời là nơi chứa bình nitơ lỏng và các thiết bị hỗ trợ khác cho việc cấp đông và trữ đông.

Theo một khía cạnh, sáng chế đềê xuất hệ thống xử lý, cấp đông và trữ đông cho tàu đánh bắt cá ngừ. Hình 2 là hình vẽ thể hiện dưới dạng sơ đồ cụm xử lý và cấp đông cá ngừ bằng nitơ lỏng từ bên trong khoang bụng cá, trong đó một số bộ phận đã được bỏ đi (bình chứa nitơ lỏng nôi với đâu vào của bơm, thiết bị định lượng nitơ lỏng - flowmeter được lắp trên đường ống từ bình chứa nitơ lỏng tới đầu vào của bơm, thiết bị định lượng này được nối điện với mạch điện tử 3 và được tác động vận hành bởi mạch này). Cụm xử lý và cấp đông này bao gồm bơm 1 có cần bơm để luồn sâu vào trong khoang bụng cá nhằm thực hiện hai bước vận hành, bước thứ nhất là hút nước và những thứ còn tồn lưu trong bụng cá ra ngoài và bước thứ hai là bơm một lượng nitơ lỏng định trước vào trong khoang bụng cá, tương ứng với trọng lượng cá; bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá 2 để lấy thông số trọng lượng của cá đưa vào mạch điện tử 3 và là nơi để thực hiện xử lý sơ bộ và cấp đông cá từ bên trong ở trên đó, cá khi còn sống được giữ ổn định trên bàn theo tư thế xử lý 4 bằng đai chằng 5; và mạch điện tử 3 nối điện với bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá 2, mạch này tiếp nhận thông số trọng lượng cá từ bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá 2, từ đó quy đổi theo thuật toán, tính ra lượng nitơ lỏng cần bơm vào khoang bụng cá nhằm thực hiện việc cấp đông cá từ bên trong. Lượng nitơ cần bơm vào trong khoang bụng cá là từ 16593

7% đến 10% trọng lượng cá. Theo sáng chế, thuật toán để tính lượng nitơ lỏng trong mạch điện tử 3 là:

Trong đó:

MN2 là lượng nitơ lỏng (kg) cần bơm vào khoang bụng cá để cấp đông cá từ bên trong.

MCa là trọng lượng cá (kg) nhận được từ bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá 2.

Hình 3 là hình vẽ thể hiện kết cấu của cần bơm dùng để hút nước và dịch còn tồn lưu trong bụng cá và sau đó bơm cấp nitơ lỏng vào trong khoang bụng cá, cần bơm này có dạng ống lồng bao gồm ống cấp nitơ lỏng 1 .2 vào trong khoang bụng cá được nối với bình chứa nitơ lỏng; ống hút dịch tồn lưu gồm đoạn ống bao 1.3 lớn hơn và lồng bên ngoài ống cấp nitơ lỏng 1.2, đầu cần bơm 1.1 làm bằng nhựa dẻo, mềm, ví dụ, cao su silicon, có các cạnh mép bo tròn để không gây rách, thủng bụng cá và trên đầu cần bơm 1.1 có nhiều khe hút song song, ví dụ, hình ô van, không gian giữa ống cấp nitơ lỏng và đoạn ống bao tạo thành một đường dẫn dịch hút dịch từ bụng cá ra; tay cầm 1 .4; công tắc bấm 1.5; van điện từ

1.6 loại thường đóng (chỉ mở khi có dòng điện tác động) của đường ống dẫn nitơ lỏng; và van điện từ 1.7 loại thường đóng của ống hút dịch dịch. Khi bóp công tác bấm 1.5, mạch điện tử 3 được thiết kế chỉ tác động cấp dòng điện mở van điện từ

1.7 của ống hút dịch dịch, trong khi van điện từ 1.6 của ống cấp nitơ lỏng vẫn đóng (vì chưa được cấp điện) và đồng thời khởi động một mạch điện tử định thời lượng (đếm số giây) tích hợp trong mạch điện tử 3. Khi đủ thời lượng ấn định, chẳng hạn được ấn định từ 2 đến 4 giây, mạch điện tử 3 tự động chuyển đổi trạng thái, tức là ngắt dòng điện để đóng van điện từ 1.7 của ống hút dịch dịch và đồng thời cấp điện để mở van điện từ 1.6 của ống cấp nitơ lỏng. Khi lượng nitơ lỏng định trước theo trọng lượng các đã được bơm hết vào khoang bụng cá, mạch điện tử 3 tự động ngắt toàn bộ mạch điện vận hành của toàn bộ cần bơm. 16593

Theo một phương án, như được thể hiện trên Hình 4, kết cấu của khoang cấp đông và trữ đông bao gồm các bình chứa nitơ lỏng 6 được đặt trong khoang hầm C đặt máy tàu; van điện từ (solenoid) 7 bố trí trên đường ống cấp nitơ lỏng để khống chế mức nitơ lỏng cấp vào khoang cấp đông và trữ đông; giàn phun nitơ lỏng 8 được bố trí áp trần của khoang cấp đông và trữ đông, giàn phun này có một ống trục chính và nhiều ống nhánh tỏa đều ra khấp trần; cảm biến điện tử 9 để theo dõi và chuẩn mức nhiệt độ đặt theo yêu cầu bằng cách tác động đóng/mở van điện từ 7 nhằm điều tiết lượng nitơ lỏng cấp vào khoang cấp đông và trữ đông thông qua giàn phun nitơ lỏng 8; và khoang cấp đông được bảo ôn bằng lớp vật liệu cách nhiệt, giữ lạnh 10, trong đó những mũi tên (↑ ↓) là dòng đối lưu liên tục của khí trong khoang cấp đông và trữ đông theo nguyên lý khí động và nhiệt động, tức là khí nóng lan tỏa đi lên và khí lạnh tràn xuống dưới.

Theo một phương án khác, như được thể hiện trên các Hình 5, Hình 6 A và Hình 6B, khoang cấp đông và trữ đông có thể được thiết kế dưới dạng môđun gồm một hoặc nhiều môđun cấp đông và trữ đông đặt liên tiếp nhau, mỗi môđun cấp đông và trữ đông có cấu tạo bao gồm: vỏ được cách nhiệt 11; khung đỡ khay cá 12 có thể kéo lên và hạ xuồng sát đáy trong lòng của môđun cấp đông và trữ đông để xếp các khay cá vào hoặc dỡ các khay cá ra; và nắp môđun cấp đông và trữ đông 13 được đóng mở bằng bản lề. Môi môđun cấp đông và trữ đông này còn có các bộ phận (không được thế hiện trên hình vẽ) giống như của khoang cấp đông và trữ đông được thể hiện trên Hình 4, bao gồm các đường ống cấp nối với bình nitơ lỏng 6; van điện từ 7 bố trí trên đường ống cấp nitơ lỏng để khống chế mức nitơ lỏng cấp vào môđun cấp đông và trữ đông; giàn phun nitơ lỏng 8 có một ống trục chính và nhiều ống nhánh tỏa ra khắp nắp môđun cấp đông và trữ đông; và cảm biến nhiệt độ 9 để theo dõi nhiệt độ vận hành từ đó chuẩn mức nhiệt độ bằng cách tác động đóng/mở van điện từ nhằm điều tiết lượng nitơ lỏng cấp vào giàn phun nitơ lỏng để điều chỉnh nhiệt độ môđun cấp đông và trữ đông về nhiệt độ đặt. Trong phương án này, giàn phun nitơ lỏng 8 với kết cấu nêu trên được bố trí áp sát nắp của môđun cấp đông và trữ đông 13, tuy nhiên, giàn phun 16593 này có thể được thay đổi về kết cấu hoặc có thể được lắp tại vị trí thích hợp bất kỳ.

Với kết cấu môđun như vậy, trên boong tàu đánh bắt sẽ được trang bị cầu trục có khả năng dịch chuyển trên boong để nâng/hạ khung đỡ khay cá.

Cần phải hiểu rằng, hệ thống theo sáng chế còn bao gồm các dụng cụ hoặc thiết bị thông thường đã biết rõ trong lĩnh vực để dùng cho việc xử lý sơ bộ cá trước khi cấp đồng hoặc để dùng cho việc cấp đông, trữ đông, và không cần phải mô tả chúng.

Theo một khía cạnh khác, sáng chế đề xuất tàu đánh bắt cá ngừ được trang bị hệ thống xử lý, cấp đông và trữ đông với các đặc điểm cấu tạo như được trình bày trên đây.

Theo một khía cạnh khác, sáng chế đề xuất phương pháp xử lý, cấp đông và trữ đông cá ngừ trên tàu đánh bắt cá ngừ bao gồm các bước:

_ - Gây sốc điện bằng điện thế với cường độ và tần số đủ mạnh để làm ngất cá ngay khi cá được đưa lên boong tàu, nhờ đó tránh làm tăng thân nhiệt cá do quẫy và khống chế sơ bộ được những phản ứng sinh hóa bất lợi trong cơ thế và trong máu cá.

- Đặt cá lên bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá 2, chằng siết bằng đai giữ cá 5. Mạch điện tử 3 nối điện với bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá 2 tiếp nhận số liệu trọng lượng cá và từ đó tính được lượng nitơ lỏng cần thiết để bơm cấp vào khoang bụng cá nhằm cấp đông cá từ bên trong.

- Lấy kiệt máu cá bằng cách cắt, trích theo quy cách ở những vị trí quy định trên thân cá để lấy máu ra, vì cá mới chỉ bị ngất, chưa chết, nên tim cá vẫn còn hoạt động và đẩy máu ra, việc lấy máu cá này có thể được hỗ trợ bằng những chụp hút, tương tự như máy vắt sữa bò, để rút ngắn thời gian xử lý.

- Loại bỏ nội tạng, mang và những bộ phận chứa, tích tụ nhiều loại vi khuẩn và những loại enzym gây phân hủy, nhưng không cần phá huỷ não, tủy sống trong ống dây thần kinh chạy dọc trong xương sống. 16593 _ - Cấp đông cá từ bên trong: luồn cần bơm vào sâu trong khoang bụng cá, bóp công tắc bấm 1.5, lúc này mạch điện tử 3 tác động mở van điện từ 1.7 của ống hút dịch 1.3 để hút nước và những thứ còn tồn lưu trong bụng cá ra ngoài, còn van điện từ 1 .6 của ống cấp nitơ lỏng 1 .2 vẫn đóng; bước thao tác này được khống chế theo quy trình bởi một mạch điện tử định thời lượng (đếm số giây) tích hợp trong mạch điện từ 3, mạch điện tử định thời lượng này bắt đầu đếm số giây ngay sau khi bóp công tắc bấm, chẳng hạn được ấn định từ 2 đến 4 giây. Khi đã đủ thời lượng ấn định thì mạch điện tử 3 sẽ tác động chuyển trạng thái, tức là đóng van điện từ 1.7 của ống hút dịch 1.3 và mở van điện từ 1.6 của ống cấp nitơ lỏng 1.2 để bơm một lượng nitơ lỏng, đã được định lượng nhờ mạch điện tử 3 trên cơ sở trọng lượng cá đặt trên bàn cân, vào khoang bụng cá nhằm làm bất hoạt ngay lập tức toàn bộ mọi cơ chế hoạt động sinh hoá của tế bào não, tuỷ sống và của các loại vi khuẩn và enzym vốn có sẵn trong nội tạng có thể gây hư hỏng thịt cá, đồng thời cấp đông cá từ bên trong. Khi lượng nitơ lỏng định trước đã được bơm hết vào khoang bụng cá, mạch điện tử 3 sẽ tự động ngắt điện toàn bộ cần bơm.

- Cấp đông cá từ bên ngoài và trữ đông cá: đưa ngay cá sau khi được cấp đông bằng nitơ lỏng từ bên trong khoang bụng vào trong khoang cấp đông và trữ đông, phun nitơ lỏng đều khắp thân cá để tạo ra hiệu ứng cấp đông cá từ ngoài vào cho đến khi đạt nhiệt độ bảo quản đặt theo yêu cầu và cuối cùng tạo lớp mạ băng trên bê mặt thân cá nhằm giảm sự thất thoát độ lạnh khi dỡ và trung chuyển cá, trong đó việc theo dõi nhiệt độ của khoang cấp đông và trữ đông được thực hiện bởi cảm biến nhiệt độ 9 và trong quá trình vận hành sẽ tác động đóng/mở van điện từ 7 nhằm điều tiết lượng nitơ lỏng cấp vào giàn phun để điều chỉnh nhiệt độ trong khoang cấp đông và trữ đông về nhiệt độ đặt, ví dụ là -25°c, và nếu cần có thể đặt lạnh sâu hơn nữa.

Hiệu quả đạt được của sáng chế

Giải pháp theo sáng chế cấp đông cá theo cả hai chiều là từ trong ra và từ ngoài vào, nên nhanh chóng đạt mức tiêu chuẩn bảo quản đông lạnh quốc tế, và nếu cần có thể làm lạnh sâu hơn. 16593

Giải pháp theo sáng chế tiết giảm được công đoạn xử lý phá hủy bộ não cùng dây tủy sống do việc bơm trực tiếp nitơ lỏng vào bên trong khoang bụng cá sẽ làm bất hoạt ngay lập tức những hoạt động của não và tủy trong xương sống, nghĩa là làm ngưng ngay các phản ứng sinh hóa có khả năng gây phân hủy thịt cá.

Trang thiết bị được sử dụng trong phương pháp theo sáng chế rẻ hơn những loại thiết bị cấp đông cơ điện lạnh.

Việc vận hành khoang cấp đông và trữ đông hoặc môđun cấp đông và trữ đông là đơn giản do chỉ sử dụng duy nhất một van, trong khi những hệ thông cấp đông và trữ đông cơ điện lạnh có rất nhiều van, đường ống, máy nén rất phức tạp và vẫn phải chở theo nhiên liệu để vận hành.

Việc thiết kế chế tạo khoang cấp đông và trữ đông dưới dạng môđun giúp giảm được khoản đầu tư ban đầu cho việc thử nghiệm ít nhất là 5 lần so với việc thiết kế chế tạo cả một khoang cấp đông và trữ đông lớn gấp từ 5 đến 7 lần kích thước của một môđun, khâu chế tạo cũng bớt phức tạp, và dễ lắp đặt.

Phương pháp theo sáng chế dễ dàng ứng dụng trên những loại tàu gỗ mà ngư dân hiện đang sử dụng trên ngư trường. Tùy theo khả năng tài chính, chủ tàu có thể lựa chọn lắp thử nghiệm một môđun, sau đó có thể lắp thêm nhiều môđun nữa nếu muốn.

Phương pháp theo sáng chế có thể làm giảm chi phí sản xuất do giảm tải lượng và tăng không gian để bảo quản cá do không phải chở theo một lượng lớn nước đá.

Phương pháp theo sáng chế có thể tăng giá trị sản phẩm, cả chất lượng và cảm quan.

Môi chất sử dụng trong phương pháp theo sáng chế hoàn toàn thân thiện với môi trường.

Phương pháp theo sáng chế có thể tận dụng được lượng nitơ lỏng rất sẵn và rẻ. 16593

Ví dụ thực hiện sáng chế

Phương pháp xử lý và cấp đông cá ngừ theo sáng chế sẽ được thể hiện một cách cụ thể thông qua ví dụ dưới đây đối với lô cá ngừ gồm 05 con ngay sau khi đánh bắt và gây sốc điện.

Trọng lượng (kg) của 05 con cá này lần lượt là 52, 55, 59, 63 và 67. Mạch điện tử 3 tiếp nhận thông số trọng lượng cá từ bàn thao tác kiêm cân trọng lượng cá, từ đó tính ra lượng nitơ lỏng (kg) cần bơm vào khoang bụng cá tương ứng là 4,4, 4,7,5,0, 5,4 và 5,7.

Tiến hành lấy máu cá; loại bỏ nội tạng, mang và những bộ phận chứa nhiều vi khuẩn, enzym gây hư hỏng cá, nhưng không loại bỏ não và tuỷ sống.

Luồn cần bơm vào sâu trong khoang bụng của môi con cá nêu trên, bóp công tắc bấm 1.5, mạch điện tử 3 sẽ vận hành bơm để hút những thứ còn tồn lưu trong bụng cá ra trong thời gian ấn định là 2 giây, sau đó bơm cấp cho đến khi hết lượng nitơ lỏng đã được định lượng trước vào trong khoang bụng của từng con cá tương ứng để cấp đông cá từ bên trong.

Xếp cá vào khay và đưa vào môđun cấp đông và trữ đông dưới hầm tàu, phun nitơ lỏng đều khắp thân cá để tạo ra hiệu ứng cấp đông cá từ ngoài vào, sau đó mạ băng sản phẩm. Trong ví dụ này, nhiệt độ của môđun cấp đông và trữ đông được không chế bằng nhiệt độ bảo quản thủy hải sản quốc tế quy định là -25()c.

Sau 20 ngày, kiểm tra thấy cá giữ được màu đỏ tươi nguyên thủy của thịt và huyết, đáp ứng tiêu chí cảm quan của sản phẩm.

Mặc dù sáng chế được mô tả theo các phương án được ưu tiên, nhưng sáng chế không chỉ giới hạn ở các phương án đã được mô tả. Các phương án nêu trên có thể được điều chỉnh hoặc thay đổi bởi chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật này, nhưng chúng vẫn thuộc phạm vi của sáng chế. Phạm vi của sáng chế sẽ được xác định bởi Yêu cầu bảo hộ dưới đây.

10. Nội dung có thể chuyển giao

Liên hệ trực tiếp

11. Thị trường ứng dụng
12. Hình ảnh minh họa
In bài viết
Các phát minh, sáng chế khác
 
Banner
Banner home right