Trang chủ Bằng phát minh, sáng chế • Liên hệ     • Giới thiệu     • Tài liệu hướng dẫn

Phương pháp và hệ thống hoá hơi ga lỏng

Cập nhật Thứ ba - 19/01/2016 14:46 In bài viết

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Phương pháp và hệ thống hoá hơi ga lỏng
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0007052
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ sinh học (Sáng chế)
4. Ngày công bố 25/06/2008
5. Ngày cấp 25/06/2008
6. Chủ sở hữu chính PHAN ĐÌNH PHƯƠNG
7. Tác giả PHAN ĐÌNH PHƯƠNG
8. Điểm nổi bật
Sáng chế đề xuất phương pháp hoá hơi ga lỏng, trong đó bồn chứa luôn có phần ga lỏng nằm bên dưới và khoảng trống có ga ở dạng khí. Ga lỏng trong bồn chứa được tăng cường hấp thụ nhiệt từ môi trường xung quanh bằng cách hút ga lỏng phun vào mặt trong của thành bồn chứa sao cho ga lỏng chảy ở mặt trong của thành bồn chứa và xáo trộn phần ga lỏng bên trong bồn chứa. Nhờ vậy, ga lỏng được tạo thuận lợi và tăng khả năng hấp thụ nhiệt lượng từ môi trường xung quanh để hoá hơi. Sáng chế cũng đề xuất hệ thống hoá hơi ga lỏng hoạt động theo phương pháp hóa hơi nêu trên. Nhờ vậy, có thể tận dụng được nhiệt lượng từ môi trường xung quanh là nguồn nhiệt vô tận, không tốn chi phí để hóa hơi ga lỏng. Hơn nữa, hiện tượng bám nước gây gỉ sét cho thanh bồn chứa cũng được giảm xuống.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp
Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập
Sáng chế đề cập tới phương pháp hoá hơi ga lỏng sử dụng trong công nghiệp, trong đó ga lỏng được hoá hơi nhờ hấp thụ nhiệt từ môi trường xung quanh, sáng chế cũng đề xuất thiết bị hoá hơi ga lỏng áp dụng phương pháp nêu trên.
Tình trạng kỹ thuật của sáng chế
Khí đốt hay khí ga là một nguồn nhiên liệu được sử dụng phổ biến để cấp nhiệt cho các nhà máy công nghiệp nhờ những tính nâng kinh tế - kỹ thuật ưu việt và thân thiện môi sinh của nó. Tuy nhiên, việc sử dụng khí ga này khá phức tạp, khí ga là một nhiên liệu rất dễ cháy nổ và phải được tăng áp lên 8-10 bar và làm lạnh để hoá lỏng và vận chuyển, nhưng trong quá trình sử dụng, ga lỏng này lại cần được hoá hơi và giảm áp (khoảng 0,03-0,1 bar) cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của lò đốt.
Để sử dụng ga lỏng trong công nghiệp, cụ thể là trong các lò đốt, hệ thống cấp ga cho các nhà máy thường có các máy hoá hơi bằng điện, ga, gió hoặc năng lượng mặt trời để đun nóng ga lỏng lên 65 - 80°c để cưỡng bức hoá hơi ga lỏng.
Fig. 1 là một ví dụ về hệ thống cấp ga công nghiệp đã biết. Hệ thống này bao gồm các bồn chứa ga 01 có áp suất ban đầu 5 ba, các máy hoá hơi 03 bằng điện dùng để hóa hơi ga lỏng được nối với các bồn chứa 01 qua ống 02, và bộ điều áp 04 và hạ áp 05 để điều chỉnh áp suất ga lỏng hóa hơi từ máy hóa hơi 03. Hệ thống cấp này còn có thể có ống 06 nối thông từ khoảng trống trong bồn 1 tới đầu ra của máy hóa hơi 03 để tận dụng hơi ga có sẵn trong bồn chứa 01. Mặc dù máy hoá hơi có thể đáp ứng được nhu cầu về lưu lượng ga lỏng hoá hơi, song chúng cũng tồn tại các nhược điểm sau.
Các máy hóa hơi chạy điện hoặc ga là các thiết bị đắt tiền, tiêu thụ khá nhiều năng lượng, và có chi phí lắp đặt và vận hành cao.
Độ tin cậy làm việc chưa cao. Do ga là chất dễ cháy nổ lại được đun nóng để hóa hơi bằng máy hoá hơi ở nhiệt độ cao nên nguy cơ cháy nổ cao, phải được đun trong thiết bị phòng nổ kín nên linh kiện hay hư hỏng đột xuất nhưng không nhìn thấy và muốn thay cũng phải ngừng lò. Hơn nữa, nhiều máy hoá hơi hiện tại không có chức năng phân biệt ga hơi hay lỏng vì không có bình và phao tách lỏng. Khi điện áp giảm làm nhiệt độ giảm dẫn tới ngập ga lỏng trong lò đốt làm tắt lửa. Trong trường hợp này, có nguy cơ cháy nổ cao nếu lò đốt không được khởi động lại đúng cách.
Hầu hết các máy hoá hơi đều sử dụng phương pháp đun ga gián tiếp qua môi trường trung gian là nước sạch để đảm bảo an toàn nên hiệu suất giảm. Nước sạch quyết định sự an toàn của thiết bị nên nhà chế tạo chỉ cho phép vận hành ở nhiệt độ hạn chế (60 - 80°C). Nước không được khuấy trộn và bề mặt của thanh điện trở rất nhỏ làm cho hiệu suất trao đổi nhiệt giảm, kích thước máy hoá hơi lớn và khá nặng nề.
Ga là hỗn hợp propan và butan nhưng thực tế ga thương phẩm thường chứa rất nhiều tạp chất như etan, buten, izobutan và isopentan V.V.. Nếu sử dụng máy hoá hơi để hóa hơi ga lỏng thì có thể gây biến đổi ga lỏng tạo ra dầu nhờn, nhựa đường và than tích tụ trong máy hoá hơi, làm tắc đường ống cấp ga. Điều này có thể gây ra hỏng máy hóa hơi và ngừng cấp khí ga cho các thiết bị.
Thiết bị hoá hơi ga lỏng bằng năng lượng mặt trời khá đắt tiền cũng có thể được sử dụng và lượng hơi ga lại phụ thuộc vào thời gian, mùa và thời tiết.
Ngoài ra, quá trình hóa hơi ga lỏng cũng cần tính đến lượng ga lỏng hóa hơi trong bồn chứa khi hấp thu nhiệt từ môi trường qua thành bồn chứa. Tuy nhiên, sự bốc hơi chỉ xảy ra ở bề mặt thoáng của ga lỏng. Công suất hoá hơi tự nhiên nhờ thành bồn chứa được tính theo công thức:
V = K. A.(Tmt-Tmin)/L
Trong đó: - V : Công suất hoá hơi tự nhiên nhờ da bồn, kg/h - K : Hệ số trao đổi nhiệt, khoảng 9-10 kcal/m2h°c - A : Diện tích thành bồn chứa tiếp xúc với ga lỏng, m2 - Tmt: Nhiệt độ thấp nhất của môi trường, °c - Tmin: Nhiệt độ sôi của ga, thông thường Tmin = Tmt - 20°c - L : Nhiệt lượng cần thiết để hoá hơi 1 kg ga lỏng.
Có thể thấy là hầu như toàn bộ thành bồn tiếp xúc với khoảng trống trong bồn (phần không tiếp xúc với ga lỏng - thành khô) có tác dụng rất ít trong việc hấp thụ nhiệt từ môi trường cho ga lỏng.
Cần lưu ý rằng khi không ở chế độ hoạt động, thì ga lỏng trong bồn chứa ở trạng thái cân bằng nhiệt với nhiệt môi trường, nhưng khi ở chế độ hoạt động, tức là ga lỏng trong bồn chứa được rút dần ra, khí ở khoảng trống trong bồn chứa cũng được hút ra. Do tính chất hóa lý trong bồn chứa thay đổi nên nhiệt ở phần thành bổn tiếp xúc với ga lỏng (thành ướt) thấp hơn khá nhiều so với nhiệt ở thành bồn không tiếp xúc với ga lỏng (thành khô) ở bên trên. Hiện tượng này được thể hiện rõ trên Fig.2, có thể thấy rằng phần thành bồn ướt 01a của hệ thống cấp ga trên Fig.1 bị đọng nước ở bên ngoài do nhiệt độ thấp hơn phần thành bồn khô 01b khi hệ thống cấp hoạt động. Nếu hệ thống cấp do hoạt động càng lâu, quá trình này cứ lặp đi lặp lại và gây ra gỉ sét, oxi hóa thành ướt 01b của bồn chứa 01, giảm tuổi thọ của bồn chứa.
Bản chất kỹ thuật của sáng chế
Mục đích thứ nhất của sáng chế là đề xuất phương pháp hóa hơi ga lỏng bằng cách cho phép tăng cường khả năng hấp thụ nhiệt cho ga lỏng qua thành bình nhờ việc tăng khả năng truyền nhiệt của môi trường tới phần thành bồn khô tới ga lỏng, làm xáo trộn lớp ga lỏng để tạo thuận lợi cho quá trình hóa hơi.
Mục đích thứ hai của sáng chế là tạo ra hệ thống hóa hơi ga lỏng áp dụng phương pháp nêu trên. Hệ thống này cần có kết cấu đơn giản, rẻ tiền và dễ lắp đặt.
Mục đích thứ ba của sáng chế là tận dụng áp năng hiện có trong ga lỏng để làm nguồn năng lượng dẫn động cho hệ thống hóa hơi hoặc làm nguồn dẫn động cơ học cho các thiết bị khác.
Mục đích thứ tư của sáng chế là sử dụng nhiệt của các chất thải như nước nóng thải và nhiệt của khói lò cho quá trình hóa hơi ga lỏng.
Để đạt được mục đích thứ nhất, sáng chế đề xuất phương pháp hóa hơi ga lỏng trong đó để tăng cường quá trình trao đổi nhiệt giữa ga và môi trường xung quanh, ga lỏng trong bồn chứa được phun lên thành trong của một phần thành bồn chứa nằm trên mặt thoáng của ga lỏng và hơi ga được liên tục xả ra khỏi bồn chứa.
Để đạt được mục đích thứ hai, sáng chế đề xuất hệ thống hóa hơi ga lỏng bao gồm ít nhất một bổn chứa ga lỏng trong đó ga lỏng chỉ chiếm một phần dung tích bồn chứa, phần còn lại là khoảng trống có ga ở dạng khí; bơm dùng để hút ga lỏng từ bồn chứa tới bộ phận phun; bộ phận phun dùng để phun ga lỏng vào mặt trong của thành bồn chứa; và đường xả hơi ga dùng để đưa hơi ga ra khỏi bồn chứa. Ngoài ra, bộ phận phun của hệ thống hóa hơi ga này còn có thể có đầu phun dùng để phun ga lỏng thành dạng sương mù vào khoảng trống trong bồn chứa. Hơn nữa, để tận dụng áp năng của khí ga trong bồn chứa, bơm khí nén được sử dụng và được dẫn động bằng ga ở dạng khí được dẫn ra từ bồn chứa. Nhờ hệ thống hóa hơi này, có thể tận dụng được nhiệt lượng từ môi trường xung quanh là nguồn nhiệt vô tận, không tốn chi phí để hóa hơi ga lỏng. Ngoài ra, hiện tượng bám nước gây gỉ sét cho thành bồn chứa cũng được giảm xuống. Hệ thống hóa hơi này đơn giản và rẻ tiền, chi phí vận hành và bảo dưỡng thấp.
Để đạt được mục đích thứ tư của sáng chế, hệ thống hoá hơi ga lỏng được đề xuất bao gồm bồn chứa ga lỏng; bộ điều áp nối giữa bồn chứa và bộ trao đổi nhiệt dùng để điều chỉnh dòng ga lỏng tới bộ phận trao đổi nhiệt một cách ổn định; và bộ phận trao đổi nhiệt dùng để trao đổi nhiệt giữa nước nóng thải được dẫn từ bên ngoài đi qua bộ trao đổi nhiệt và ga lỏng được dẫn từ bộ điều áp thứ nhất qua bộ phận trao đổi nhiệt tới đầu ra, bộ phận trao đổi nhiệt có bộ phận điều chỉnh dòng chảy để buộc ga lỏng từ bộ điều áp thứ nhất sẽ hoá hơi hoàn toàn ở đầu ra. Nhờ hệ thống hóa hơi này, có thể tận dụng nhiệt của nước hoặc nước nóng thải để hóa hơi ga lỏng nên có thể tiết kiệm được năng lượng.
Mô tả vắn tắt các hình vẽ
Fig.1 là hình phối cảnh dạng sơ đồ của hệ thống cấp ga công nghiệp có sử dụng máy hóa hơi đã biết.
Fig.2 là hình vẽ mặt cắt ngang của bồn chứa trên Fig.1 thể hiện hiện tượng gỉ sét bên ngoài thành ướt của bổn chứa.
Fig.3 là hình vẽ mặt cắt ngang dạng sơ đồ của hệ thống hóa hơi có bơm điện theo sáng chế.
Fig.4 là hình phối cảnh dạng sơ đồ của hệ thống hóa hơi trên Fig.3.
Fig.5 là hình phối cảnh dạng sơ đồ của hệ thống hóa hơi theo sáng chế có bơm khí nén được dẫn động bằng cách sử dụng áp suất của khí ga trong bồn chứa.
Fig.6 là hình phối cảnh dạng sơ đồ của hệ thống hóa hơi theo sáng chế sử dụng nước hoặc nước nóng thải.
Fig.7 là hình phối cảnh dạng sơ đồ của hệ thống hóa hơi theo sáng chế sử dụng khói lò để cấp nhiệt thêm cho ga lỏng.
Mô tả chi tiết các phương án ưu tiên của sáng chế
Theo Fig.3 và Fig.4, hệ thống hóa hơi ga lỏng theo một phương án thực hiện của sáng chế bao gồm các bồn chứa ga lỏng 1 trong đó ga lỏng chỉ chiếm một phần dung tích bồn chứa (phần thành ướt 1a), phần còn lại là khoảng trống có ga ở dạng khí tiếp xúc với phần thành còn lại của bồn chứa (phần thành khô 1b), bơm điện 7 dùng để hút ga lỏng từ bồn chứa 1 qua đường ống tới đầu vào của bơm và đẩy ga lỏng qua đường ống tới bộ phận phun 9 là một đường ống được tạo các lỗ phun hướng về thành bồn chứa. Ngoài ra, hệ thống còn có đường ống khí 6 nối thông khoảng trống có ga ở dạng khí trong bồn chứa tới lò đốt qua các bộ điều áp 4 và 5.
Đầu vào của bơm 7 được nối thông với ga lỏng trong bồn chứa 1 qua đường ống 2, còn đầu ra của bơm 7 được nối thông với ống phun 9 nằm trong khoảng trống trong bồn chứa 1 qua ống 8. Đường ống phun 9 nằm dọc theo thành trên của bồn chứa 1 được tạo các lỗ phun dọc theo đường ống. Một số lỗ phun này mở hướng vào phần thành khô 1b của bồn chứa 1 sao cho ga lỏng khi được phun qua các lỗ phun này sẽ chảy thành màng mỏng dọc theo phần thành khô, các lỗ phun còn lại có đường kính nhỏ hơn mở hướng vào khoảng trống bên trong bồn chứa 1 để phun ga lỏng thành dạng sương mù.
Hoạt động của hệ thống hóa hơi như sau. Bơm điện 7 hút ga lỏng từ đáy các bồn chứa 1 qua ống 2 và đẩy vào ống 8 tới ống phun 9 đặt dọc trong bồn. Do được tăng áp bởi bơm điện 7, phần lớn ga lỏng chảy trong ống phun 9 phun mạnh qua các lỗ phun tới bề mặt của phần thành khô bên trong bồn chứa 1 và chảy tạo thành màng xuống phần thành ướt. Phần ga lỏng còn lại phun qua các lỗ phun nhỏ thành dạng sương mù vào khoảng trống bên trong bồn chứa 1 làm không gian trong bồn trở nên quá bão hoà bởi vô vàn giọt ga lỏng li ti có tổng diện tích xung quanh rất lớn sẽ dễ dàng hoá hơi hơn so với khi chỉ hoá hơi từ mặt thoáng ga lỏng.
Khi ga dạng khí được cấp qua đường ống 6 bắt đầu được lò đốt tiêu thụ, khí ga ở khoảng trống trong bồn chứa chuyển dần từ trạng thái quá bão hoà sang trạng thái chưa bão hòa nên ga lỏng trong bồn chứa tiếp tục bay hơi vào khoảng trống. Đồng thời, lượng ga lỏng trong bồn chứa cũng bị rút dần xuống. Do quá trình bay hơi liên tục của ga lỏng trong bồn chứa, phần thành ướt của bồn chứa bị giảm nhiệt độ và trở nên lạnh hơn phần thành khô. Tuy nhiên, do ga lỏng được bơm tuần hoàn chảy thành màng mỏng ở bề mặt trong của phần thành khô, nên ga lỏng được hấp thu nhiệt của phần thành này một cách tối đa. Hơn nữa, các hạt sương mù trong bồn chứa có tổng diện tích bề mặt tăng lên cũng làm tăng khả năng hấp thu nhiệt của ga lỏng qua phần thành khô. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa phần thành khô và phần thành ướt, và giữa phần thành khô và phần thành ướt với môi trường xung quanh cũng được giảm xuống nên giảm được hiện tượng nguy cơ đọng nước ở bề mặt ngoài của phần thành ướt, nên cũng giảm được gỉ sét thành bồn. Quá trình hút ga lỏng ra khỏi bồn chứa 1 và dòng ga lỏng chảy ở mặt trong của phần thành khô xuống phần thành ướt cũng gây ra sự xáo trộn lớp ga lỏng ở phần thành ướt. Điều này tạo thuận lợi hơn nữa cho ga lỏng bay hơi.
Như vậy, nhờ ga lỏng được phun thành màng mỏng ở bề mặt trong của phần thành khô và quá trình bơm tuần hoàn làm xáo trộn lớp ga lỏng, ga lỏng được phun thành dạng sương mù vào khoảng trống trong bồn chứa 1, nên ga lỏng được hấp thu tối đa nhiệt lượng của môi trường xung quanh. Điều này đặc biệt có lợi vì không cần phải sử dụng máy hóa hơi có kết cấu phức tạp, đắt tiền, mà lại có thể tận dụng được nhiệt lượng từ môi trường xung quanh là một nguồn cấp nhiệt vô tận, không tốn kém. Theo tính toán của tác giả sáng chế, hai bồn chứa ga 1 đường kính 3,36 m, chiều dài 26,9 m, dung tích 225 m3, tổng diện tích bề mặt của thành bồn là 299 m2, tổng sức chứa 200 tấn ga, với hệ thống cấp ga sử dụng hai máy hoá hơi cưỡng bức 3 chạy điện cần công suất 48 KW/cái (tương đương 48 (KW) X 2 (cái) X 860 (kcal/KWh) = 82.560 kcal/giờ) để đáp ứng cho thiết bị sản xuất gạch men cần lượng ga là 625 kg/giờ, tương đương với 284 N.m3/giờ (trọng lượng riêng của hơi ga 2,2 kg/N.m3). Nếu cùng loại bình chứa nêu trên mà sử dụng hệ thống hóa hơi ga theo sáng chế thì chỉ cần một bơm điện công suất 2 kW. Với nhiệt lượng hấp thu qua bề mặt của thành bồn là 9 kcal/m2.giờ.°c, nhiệt lượng có thể hấp thụ qua thành bồn là 9 (kcal/m2.h.°C) X 598(m2) X 20(°C) = 107.640 (kcal/giờ) là thừa khả năng để cấp hơi ga theo yêu cầu của hệ thống nêu trên. Hơn nữa, bơm chỉ tiêu thụ công suất là 2kW trong khi hai máy hóa hơi cần tới 96 kW, và đầu tư ban đầu cho bơm và hệ thống theo sáng chế thì đơn giản hơn rất nhiều đối với máy hóa hơi và các bộ phận kèm theo để phòng chống cháy nổ.
Hệ thống hóa hơi theo phương án thực hiện thứ hai của sáng chế như được thể hiện trên Fig.5. Hệ thống hóa hơi này tương tự như hệ thống hóa hơi trên Fig.1, chỉ khác là sử dụng bơm khí nén 11 thay cho bơm điện 7 và tận dụng áp năng của hơi ga trong bồn chứa để chạy bơm. Cần lưu ý rằng, bơm 11 ngoài đường vào ra để tuần hoàn ga lỏng, còn có đường cấp khí vào thông qua đường ống khí 10 nối thông giữa khoảng trống của bồn chứa 1 với đường cấp khí vào, và đường xả khí ra có áp thấp được nối qua bộ điều áp 5 tới lò đốt. Còn đường ống khí 10 được nối qua bộ điều áp 4 tới đầu vào của bộ điều áp 5 để tới lò đốt.
Cần lưu ý rằng, còn có thể tận dụng áp năng để truyền động cho động cơ
12 bằng cách nối đầu vào của động cơ 12 vào đầu ra của bộ điều áp 4 và đầu ra của động cơ 12 vào đầu vào của bộ điều áp 5. Áp suất ở đầu ra của bộ điều áp 4 lớn hợp áp suất đầu vào của bộ điều áp 5. Lượng chênh lệch tuỳ thuộc vào yêu cầu của động cơ 12. Động cơ 12 là động cơ khí nén, tuabin hoặc xi lanh khí. Với hơi ga ở đường ống 10 có áp suất 5 bar và áp suất hơi ga tới lò đốt là 1 bar, thì sự chênh áp này đủ để chạy động cơ 11 và 12 nêu trên.
Để tận dụng thêm nhiệt lượng từ các chất thải nóng, hệ thống hóa hơi trên Fig.5 còn có thể được lắp bổ sung thêm bộ trao đổi nhiệt giữa ga lỏng và khói lò như được thể hiện trên Fig.7. Bộ trao đổi nhiệt 13 này được nối vào giữa đường ống 6 giữa đầu ra của bơm khí nén 14 và đầu vào của ống phun 9. Bơm khí nén 14 và động cơ 16 trên Fig.7 tương tự như bơm khí nén 11 và động cơ 12 trên Fig.5. Khói lò có nhiệt độ cao được dẫn qua bộ trao đổi nhiệt 13 và trao đổi nhiệt với ga lỏng, nhờ đó vừa có thể tăng cường quá trình hóa hơi của ga lỏng, đồng thời cũng có thể giảm nhiệt độ của khói lò, điều này cũng có nghĩa là giảm ô nhiễm nhiệt cho môi trường. Cần lưu ý rằng, có thể thay chất thải là khói lò bằng nước, nước nóng thải để trao đổi nhiệt với ga lỏng hay nguồn nhiệt bất kỳ trong tự nhiên như địa nhiệt, ống dẫn nước hay sông suối ... để trao đổi nhiệt với ga lỏng và điều chỉnh áp suất và nhiệt độ sao cho ga lỏng hoá hơi.
Hệ thống hóa hơi theo một phương án thực hiện khác của sáng chế được thể hiện trên Fig.6. Hệ thống hoá hơi ga lỏng bao gồm hai bồn chứa ga lỏng 1, bộ trao đổi nhiệt 15 được nối vào đáy bồn chứa 1 qua đường ống 2 và có thể có bộ điều áp 4'. Đầu ra của bộ trao đổi nhiệt 15 được nối tới lò đốt qua đường ống dẫn khí ga và van điều áp 4 và 5. Bộ điều áp 4' dùng để điều chỉnh áp suất và lượng ga lỏng đi vào bộ trao đổi nhiệt 15 sao cho ga lỏng được hoá hơi toàn bộ ở đầu ra của bộ trao đổi nhiệt. Nước nóng thải được dẫn vào bộ trao đổi nhiệt để trao đổi nhiệt với ga lỏng. Khi được xả ra ngoài bộ trao đổi nhiệt 15, nước thải có nhiệt độ thấp hơn ở đầu vào. Ngoài ra, hơi ga trong bồn chứa cũng có thể được nối tới lò đốt qua đường ống 6. Đường ống 6 nối thông khoảng trống trong bồn chứa 1 với đầu ra của bộ trao đổi nhiệt 15 qua hộ điều áp 4". Bộ điều áp 4" dùng để điều chỉnh áp suất của hơi ga từ bồn chứa 1 cân bằng với áp suất của hơi ga ở đầu ra của bộ trao đổi nhiệt 15.
Nhờ hệ thống hóa hơi như được thể hiện trên Fig.6, có thể tận dụng nhiệt của nước nóng thải để hóa hơi ga lỏng nên có thể tiết kiệm được năng lượng, đồng thời giảm được nhiệt của nước nóng thải, tức là giảm được mức độ ô nhiễm nhiệt của nước nóng thải đối với môi trường.
Cần lưu ý rằng trong tất cả các hệ thống hóa hơi nêu trên, thì tuỳ theo nhiệt độ thấp nhất của môi trường mà chọn thiết bị trao đổi nhiệt phù hợp để cấp đủ nhiệt lượng đủ cho ga hoá hơi. Nhiệt độ sôi của ga thường thấp hơn nhiệt độ của môi trường khoảng 20°c, nên không cần phải đun ga lên nhiệt độ cao như trường hợp sử dụng máy hoá hơi nên tránh phải lắp thêm thiết bị tách cặn để tách bỏ dầu và nhựa đường sinh ra trong quá trình hệ thống hoạt động. Vì dung tích bồn chứa thường được tính toán đủ mức dự trữ để đảm bảo sản xuất liên tục, với dung tích này thì cũng đủ diện tích bề mặt của thành bình để hoá hơi theo yêu cầu của thiết bị nêu trên. Nhiệt độ vận hành của hệ thống hoá hơi theo sáng chế không quá 40°c (nhiệt độ thiết kế thường là 0 - 50°C), áp suất làm việc 10 bar (áp suất thiết kế 18 bar, do đó đảm bảo thực sự an toàn cho hệ thống. Bộ trao đổi nhiệt phải được lựa chọn phù hợp với các chất thải nóng như nước nóng thải hoặc khói lò để đảm bảo an toàn, tránh ăn mòn hay đóng cặn cho thiết bị này.
10. Nội dung có thể chuyển giao
11. Thị trường ứng dụng
12. Hình ảnh minh họa
In bài viết
Các phát minh, sáng chế khác
 
Banner
Banner home right