Trang chủ Bằng phát minh, sáng chế • Liên hệ     • Giới thiệu     • Tài liệu hướng dẫn

Chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa nước có cấu trúc chứa nước có cấu trúc ngoài và quy trình sản xuất chế phẩm này

Cập nhật Thứ sáu - 09/06/2017 10:43 In bài viết

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa nước có cấu trúc chứa nước có cấu trúc ngoài và quy trình sản xuất chế phẩm này
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0015404
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ môi trường (Sáng chế)
4. Ngày công bố 25/05/2016
5. Ngày cấp 25/05/2016
6. Chủ sở hữu chính UNILEVER N.V.
7. Tác giả BAKER Michael Richard (GB), BRENNAN Lee James (GB), CLARKE Julian Peter Woodbury (GB), KOWALSKI Adam Jan (GB), PARRY Neil James (GB), ROBERTS Geraint Paul (GB), SERRIDGE David (GB)
8. Điểm nổi bật
Sáng chế đề cập đến chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa nước có cấu trúc chứa nước với lượng ít nhất 10% trọng lượng, chất hoạt động bề mặt với lượng ít nhất là 0,5% trọng lượng, enzym được chọn từ lipaza, xenlulaza và hỗn hợp của chúng với lượng ít nhất là 0,0001% trọng lượng, và chất tạo cấu trúc ngoài, khác biệt ở chỗ, chất tạo cấu trúc ngoài chứa sợi cam quýt đã được nghiền cơ học và được nở ra trong nước với lượng ít nhất 0, 15% trọng lượng chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng này, tốt hơn là ít nhất 0,2% trọng lượng.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp

Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập

Sáng chế đề cập đến chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa nước có cấu trúc chứa nước, chất hoạt động bề mặt, chất tạo cấu trúc ngoài và enzym, chất tạo cấu trúc ngoài mang lại sự cải biến lưu biến học với chế phảm và có thể được dùng để tạo huyền phù chất liệu rắn trong chế phẩm dạng lỏng này.

Ngoài ra, sáng chế cũng đề cập đến quy trình sản xuất chế phẩm này. Tình trạng kỹ thuật của sáng chế

Với mong muốn tạo ra chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng đậm đặc, tiết kiệm chi phí đóng gói, vận chuyển và năng lượng sản xuất. WO 09153184 đề cập đến chế phẩm giặt tẩy dạng lỏng chứa nước đậm đặc được sử dụng để làm giảm lượng hóa chất mỗi lần tẩy giặt. Điều này đạt được, mà không làm mất đi tác dụng tẩy rửa, bằng việc giảm lượng chất hoạt động bề mặt được sử dụng trong mỗi lần giặt và sử dụng các enzym và polyme có hiệu quả cao để thúc đẩy khả năng tẩy rửa các vết bẩn hàng ngày. Tốt hơn là, chế phẩm này sử dụng enzym lipaza và/hoặc hỗn hợp với lượng lớn polyme polyetylenimin.etoxy hóa và polyme giải phóng vết bẩn polyeste.

Chất tạo cấu trúc ngoài được sử dụng trong chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa nước để cải biến lưu biến học và tạo huyền phù. Đối với chất lỏng co đặc, chất tạo cấu trúc có thể tạo ra sự cô đặc bằng cách tăng độ nhớt cắt trượt thấp trong khi cho phép chế phẩm được chảy một cách tự do khi đổ ra.

Vật liệu rắn có thể được tạo huyền phù trong chất lỏng này để gia tăng độ cô đặc, ví dụ chất lỏng có thể có bề mặt lóng lánh như ngọc trai bởi các tạp chất 15404 như các hạt mica hoặc các hạt titan dioxit. Chất tạo cấu trúc ngoài phải có khả năng tạo huyền phù các loại hạt trên, mà hoạt động riêng lẻ hoặc kết hợp với hệ cải biến lưu biến học khác.

Các chất tạo cấu trúc ngoài hữu dụng cho chế phẩm làm sạch dạng lỏng chứa nước ít cô đặc. Trong chế phẩm dạng lỏng này, chất hoạt động bề mặt thường được sử dụng cho việc làm đặc và cải biến lưu biến học là vượt quá mức cần thiết đối với tác dụng tẩy rửa. Điều này là không mong muốn dưới quan điểm môi trường, vì không chỉ là việc chất hóa học bị thải ra môi trường tăng lên mà việc lạm dụng quá mức các chất hoạt động bề mặt sẽ làm tăng lượng nước sử đụng khi tẩy rửa, trong khi nước là nguồn tài nguyên khan hiếm.

Chất tạo cấu trúc ngoài được biết đến là dầu thầu dầu được hydro hóa (HCO), còn được gọi là trihydroxystearin, hoặc sáp thầu dầu, và được bán dưới tên thương mại Thixcin® bởi Elementis. HCO có nguồn gốc từ quá trình cải biến hóa học chiết phẩm thực vật. Sau đó, HCO được chuyển đổi thành chất tạo cấu trúc ngoài bằng cách kết tinh nó trong chất lỏng, hoặc một phần của chất lỏng. Quá trình kết tinh này có thể sử dụng trong công thức điều chế, đặc biệt là khi sử dụng ở lượng chất tạo cấu trúc cao. Chất lỏng tạo cấu trúc HCO là hơi đục, đây là đặc tính không mong muốn khi các vệt loang quan sát được lơ lửng trong chất lỏng. Các tác giả sáng chế đã phát hiện ra rằng HCO có khả năng làm phân hủy nhanh chóng nếu có mặt của enzym lipaza. Do đó, việc sử dụng loại enzym này, đặc biệt đối với việc sử dụng như được bộc lộ trong WO09153184 đã được tìm thây là không tương thích với chất tạo cấu trúc ngoài này.

US2009/0217463 A1 bộc lộ trong ví dụ C (A-E), chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng được tạo cấu trúc ngoài chứa HCO và enzym lipaza. Chất tạo cấu 15404 trúc ngoài HCO sẽ mất khả năng tạo huyền phù, và đặc tính cải biến lưu biến học của nó bị ảnh hưởng bất lợi, trong một vài giờ khi được đưa vào công thức của chế phẩm chất tẩy rửa dạng lỏng chứa enzym lipaza, như được mô tả trong tài liệu US2009/0217463.

Việc sử dụng xenluloza dạng vi sợi (MFC) do vi khuẩn tạo ra như chất tạo cấu trúc ngoài, hoặc là cấu trúc của chính nó (US2007/0197779), hoặc tốt hơn là trong sự kết hợp với HCO, như được mô tả trong WO2010/048154. So với HCO, MFC có hiệu quả hơn khi dùng như chất tạo cấu trúc ngoài . Hơn nữa, nó không được dựa trên nên có dầu, do đó sẽ không bị tấn công bởi các enzym lipaza. Tuy nhiên, MFC phải chịu những bất lợi khác. Đầu tiên là do mức độ kết hợp rất thấp của nó, nó có thể không còn được phân tán đồng đều trong chế phẩm dạng lỏng nếu các vi bọt khí hình thành và bị mắc kẹt bởi mạng cấu trúc để làm nổi MFC lên. Một quy trình được tạo ra để cố gắng khắc phục vấn đề này được bộc lộ trong tài liệu WO09135765A (Unilever). Không enzym nào được sử dụng. Các nhà sáng chế tránh sử dụng MFC do những hạn chế đã được biết đến.

US2007/0197779 bộc lộ chất tạo cấu trúc chứa MFC được tạo ra do vi khuẩn kết hợp với lượng đáng kể carboxy metyxenluloza và gồm xanthan dưới dạng chất hỗ trợ phân tán. Nhờ sự phân tán bằng cách cắt tốc độ cao trong nước, MFC hình thành một cấu trúc mạng 3-D, có thể tạo huyền phù các vật liệu trơ như cát và hạt nilông. Phần gôm xanthan của chất phân tán không phải là thành phần mong muốn của chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng. Nó gặp những hạn chế khi kết hợp các enzym có thể phân hủy gôm xanthan. Hơn nữa, nó có thể có ảnh hưởng không mong muốn khi kết hợp với polyme làm sạch và loại bỏ vết bẩn. Các polyme này được đề xuất sử dụng ở độ đậm đặc cao trong chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng được mô tả trong 15404

WO09/153184. Vì vậy, MFC không phải là một lựa chọn tốt để tạo cấu trúc ngoài của chất tẩy rửa dạng lỏng này với lượng polyme cao.

WO2009/101545 mô tả chế phẩm chứa chất tạo cấu trúc MFC. Chế phẩm này chứa các enzym; danh sách các enzym phù hợp được nêu ở trang 29. Hỗn hợp enzym được ưu tiên bao gồm xenlulaza. Tác giả sáng chế đã xác định rằng việc sử dụng một số loại xenlulaza với MFC sẽ làm giảm khả năng tạo huyền phù và ảnh hưởng xấu đến việc cải biến lưu biến học do MFC gây ra. Tác giả sáng chế cũng phát hiện ra rằng MFC đòi hỏi sự có mặt của chất hoạt động bề mặt ở lượng tương đối cao để tạo ra sự cải biến lưu biến học có hiệu quả. Mục đích là tìm được chất tạo cấu trúc ngoài thay thế mà có thể thực hiện với lượng chất hoạt động bề mặt thấp và có thể tương thích với một loạt các enzym xenlulaza.

Dựa trên SEM, MFC tạo thành các sợi nano trong chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa nước cô đặc. Theo những hiểu biết khoa học, tác động của các sợi này là chưa rõ ràng. Vì lý do này, và bởi những nhược điểm khác của MFC đã nêu trước đây, chuyên gia trong lĩnh vực này mong muốn có thể tìm thấy chất thay thế tốt hơn cho HCO lipaza dễ bị tổn thương hơn so với MFC.

Đặc biệt trong lĩnh vực chất giặt tẩy, là bình thường khi cung cấp một loạt các sản phẩm với một khung chung. Một số trong những sản phẩm này chứa enzym và những chất khác có thể được coi là các biến thể không sinh học, mà không chứa enzym để cho phép sử dụng bởi những người tiêu dùng không muốn quần áo của họ tiếp xúc với hỗn hợp chứa enzym. Điều này làm gia tăng đáng kể sự phức tạp khi lập công thức chế phẩm nếu chất tạo cấu trúc ngoài không thể sử dụng trong khung chế phẩm chung được tạo ra cả khi có và không có hệ enzym được chấp nhận. Do đó mong muốn có một chế phẩm với cải biến lưu biến học bởi chất tạo cấu trúc ngoài mà có thể 15404 được sử dụng với lipaza và/hoặc xenlulaza hoặc không có enzym nào và trong đó vật liệu rắn có thể được tạo huyền phù một cách chắc chắn và ổn định. Do đó, nó sẽ có lợi trong chế phẩm tẩy rửa chứa nước có cấu trúc bên ngoài để có một chất tạo cấu trúc ngoài mói không có những hạn chế của HCO và/ hoặc MFC.

Tài liệu US2004/0086626 mô tả phương pháp tinh chế xenluloza để sản xuất vật liệu xenluloza có độ tinh khiết cao (highly refined cellulosic-HRC). Phương pháp này bao gôm bước ngâm nguyên liệu thô từ các câu trúc tế bào nhu mô chủ yếu trong dung dịch chứa nước, bằng việc làm giảm nhiệt độ và áp suất, và tinh chế vật liệu này với máy tinh chế dạng tấm. Sau khi làm khô sợi HRC thu được có khả năng giữ nước ở khoảng từ 25 đến ít nhất là khoảng 56 g nước/g HRC khô và giữ lại lượng nước ẩm trong điều kiện mà thường được sử dụng để loại bỏ lượng nước âm từ vật liệu. Tài liệu công bố cho thấy sản phẩm sợi HRC có thể cung cấp tính chất làm đặc tuyệt vời và có thể được sử dụng trong nhiều loại vật liệu, bao gồm cả vật liệu ăn được. Đặc tính làm đặc và tạo huyền phù là từ sợi được làm từ củ cải đường. Bột cam được sử dụng trong một vài ví dụ. Vì thế sản phẩm này được dự định dùng như một phụ gia thực phẩm. Các sản phẩm HRC khô có thể được tái hydrat hóa bằng cách sử dụng máy trộn cát tốc độ cao để phân tán khối vật liệu sợi thực vật hữu cơ nhanh chóng vào dung dịch. Các ứng dụng khác được đề cập là các chất làm đặc công nghiệp, như chất làm đặc trong sơn, chất làm đặc vết bẩn, chất làm đặc lớp phủ, và chất làm đặc tương tự.

Sợi cam quýt có khả năng liên kết nước cao có bán sẵn trên thị trường như "Herbacel AQ plus citrus fibre" của Herba Foods.

Bản chất kỹ thuật của sáng chế 15404

Sáng chế được đề xuất nhằm mục đích giải quyết các vấn đề nêu trên.

Cụ thể, sáng chế đề xuất chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa nước có cấu trúc chứa:

nước với lượng ít nhất là 10% trọng lượng, chất hoạt động bề mặt với lượng ít nhất là 0,5% trọng lượng, enzym được chọn từ lipaza, xenlulaza và các hỗn hợp của chúng với lượng ít nhất là 0,0001% trọng lượng, chất tạo câu trúc ngoài, khác biệt ở chỗ chất tạo cấu trúc ngoài chứa sợi cam quýt đã được nghiền cơ học và nở trong nước với lượng ít nhất 0,15% trọng lượng của chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng, tốt hơn là ít nhất 0,2% trọng lượng.

Tốt hơn là, chế phẩm chứa sợi cam quýt được nghiền có lượng từ 0,16 đến 0,35% trọng lượng.

Chế phẩm có thể chịu ứng suất đàn hồi lớn hơn 0,2 Pa.

Sợi cam quýt có nguồn gốc từ quả cam quýt; tốt hơn là nó bao gồm vỏ của chanh và/ hoặc chanh lá cam.Vỏ cam quýt này được nghiền bằng việc cắt tốc độ cao và vật liệu nghiền được gọi là sợi cam quýt nghiền. Sợi nghiền này có khả năng hấp thụ và liên kết ít nhất 15 lân trọng lượng nước của nó, tốt hơn ít nhất là 20 lân và thậm chí lên đến 30 lần.

Lượng tối thiểu của sợi cam quýt nghiền cần thiết để cung cấp một ứng suất tới hạn có thể chấp nhận được trong chất lỏng cuối cùng là 0,15% trọng lượng.

Chế phẩm theo sáng chế chứa ít nhất một enzym được chọn từ lipaza và xenlulaza. Tốt hơn là, enzym có lượng nằm trong khoảng từ 0,0001 đến 15404

5% trọng lượng, tốt hơn nữa là có lượng nằm trong khoảng từ 0,001 đến 0,3% trọng lượng enzym hoạt hoa. Enzym được ưu tiên là lipaza.

Chất tạo cấu cấu trúc ngoài là sợi cam quýt được nghiền mà được trải qua xử lý cơ học bao gồm bước khuấy cường độ cao trong nước và do đó vật liệu này hấp thụ nước với ít nhất 15 lần trọng lượng khô của nó, tốt nhất ít nhất là 20 lần trọng lượng của nó, để có thể trương nở. Nó có thế là một quy trình thân thiện với môi trường khi bắt đầu từ dòng thải của quy trình chế biến hoa quả. Điều này giúp chất tạo cấu trúc ngoài này là bên vững hơn khi so với chất tạo cấu trúc ngoài đã được nhác đến trước đó. Hơn nữa, nó không đòi hỏi thêm hóa chất để hỗ trợ sự phân tán của nó và nó có thể được thực hiện như hỗn họp sơ chế có cấu trúc để mang lại tính linh hoạt cho quy trình thực hiện.

Sợi cam quýt nghiền tốn ít chi phí sản xuất hơn xenluloza của vi khuẩn bởi vì việc chế biến nó đơn giản hơn và nó có thể được tận dụng từ dòng thải, ví dụ như từ việc sản xuất nước trái cây.

Tốt hơn là, nguồn sợi từ các loại trái cây họ cam quýt bởi vì chúng có lượng lớn vỏ mà có thể cung cấp vật liệu có khả năng hấp thụ nước như mong muốn. Các loại trái cây được ưu tiên nhất là chanh và chanh lá cam vì có độ pH tự nhiên của bột nghiền cơ học thu được là khoảng 3,5, cho phép sử dụng kali sorbat với lượng thấp như chất bảo quản hữu hiệu cho hỗn hợp sơ chế trước khi nó được phân tán vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng này.

Trong một quy trình được ưu tiên, sợi cam quýt được nghiền cơ học bằng cách xử lý nó để tạo hỗn hợp sơ chế tốt hơn là kết họp với chất bảo quản. Điều này được thực hiện bằng cách thêm nước vào sợi cam quýt dạng bột khô ít nhất là 15 lần trọng lượng của nó và phân tán nó bằng việc cắt tốc độ cao để tiếp tục cất các sợi cam quýt và để bắt đầu quá trình hydrat hóa, 15404 hoặc trương nở. Các sợi cam quýt được xử lý cơ học được tiếp xúc với nước cho đủ thời gian để trương nở do nó đang được hydrat hóa hoàn toàn. Bước này có thể kéo dài vài tiếng. Các tác giả sáng chế đã phát hiện rằng tốt hơn nếu sợi cam quýt được giữ riêng biệt khỏi chất hoạt động bề mặt cho đến khi nó trương nở lên hoàn toàn. Điều này tránh được khả năng các chất hoạt động bề mặt tương tác với nước trong sợi cam quýt. Một vấn đề xảy ra là tổng nồng độ các chất hoạt động bề mặt tăng lên. Quá trình trương nở hỗn họp sơ chế này dường như trở nên đặc biệt thuận lợi khi lượng chất hoạt động bề mặt trong chế phấm là 25% trọng lượng trở lên. Việc cắt với tốc độ cao có thể được được thực hiện bởi máy trộn cường độ cao như một máy trộn Silverson, hoặc, ít được ưu tiên hơn là, bởi máy trộn đồng nhất hóa có áp suất cao. Máy trộn đồng nhất hóa không được ưu tiên vì nó có thể gặp vấn đề tắc nghẽn với sợi cam quýt.

Tốt hơn là, lượng sợi cam quýt nghiền trong hỗn hợp sơ chế nằm trong khoảng từ 1 đến 5% trọng lượng. Tốt hơn là nằm trong khoảng từ 2 đến 4% trọng lượng. Tùy thuộc vào các thiết bị xử lý được sử dụng mà có thể có giới hạn cao hơn thực tế với lượng nằm trong khoảng từ 3,3 đến 3,5% trọng lượng vì có lượng nước dư để hydrat hoàn toàn các sợi cam quýt nghiền.

Sợi cam quýt nghiền có sự khác biệt về các đặc tính đổ, chiết rót với chất tạo cấu trúc ngoài được sử dụng trong chế phẩm tẩy rửa. Nó tạo ra sự dẫn lưu trên thành của bao gói, một trực quan mờ, và một kết cầu hơi nổi hạt khi rót. Điều này mang lại chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng có kết cấu sợi cam quýt nghiền với trực quan và cảm nhận khác cho người tiêu dùng. Sự khác biệt như vậy là lý tưởng để chỉ ra một sự thay đổi lớn trong chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng, đặc biệt là với chế phẩm đòi hỏi phải sử dụng ít hơn và thay đổi 15404 trong hành vi của người tiêu dùng. Không giống như một số cấu trúc ngoài, đặc biệt là MFC, sợi cam quýt nghiền không ảnh hưởng đáng kể tới sự tạo bọt bởi sự có mặt của hệ các chất hoạt động bề mặt. Đây là thuận lợi cho tính. linh hoạt của chế phẩm.

Sợi cam quýt nghiền là phức hợp và không đồng nhất, nó bao gồm các vật liệu hòa tan và không hòa tan trong nước, được chỉ ra để tạo thành một mạng lưới khác biệt của "miếng bọt biển" với cỡ và hình dạng khác nhau khi so sánh với mạng lưới có bản chất là chất xơ của MFC. Có thể một phần là do sự khác biệt về cấu trúc này, một trong những lợi thế các tác giả sáng chế đã tìm thấy rằng chế phểm tẩy rửa dạng lỏng có cấu trúc ngoài bằng sợi cam quýt nghiền là có khả năng tương thích với enzym. Đặc biệt, lipaza, có thể nhanh chóng làm giảm chất lỏng có cấu trúc HCO và xenluloza có thế có một số ảnh hưởng lên MFC.

Do đó, ít nhất một enzym được chọn từ lipaza và xenlulaza là một yếu tố thiết yếu của chế phẩm tẩy rửa của sáng chế.

Lipaza là enzym được ưu tiên như được biết đến để tăng hiệu quả trên một số loại vết bẩn và chất bẩn khi sử dụng chế phảm để cung cấp chất hoạt động bề mặt trong dung dịch với lượng thấp. Trong số các lipaza phù hợp là Lipomax®, Lipex®, và Lipolase®. Enzym lipaza được ưu tiên bao gồm các enzym có nguồn gốc từ vi khuẩn hoặc nấm. Bao gồm cả đột biến cải biến hóa học hoặc các đột biến công nghệ protein. Ví dụ về lipaza hữu dụng bao gồm lipaza từ Humicola, bao gồm cả những chất chứa polypeptit có một chuỗi axit amin mà đồng nhất ít nhất 90% với các lipaza bình thường từ Humicola lanuginosa, tốt nhất là chủng DSM 4109. Tuy nhiên, khi được sử dụng chất hoạt động bề mặt giặt tẩy ở lượng thấp còn được gọi là enzym lipaza "đa giặt rửa" có thế cho thấy lợi ích một lần rửa duy nhất. Lượng 15404 protein enzym lipaza được sử dụng trong quá trình tẩy rửa được thiết lập ở mức cao hơn bình thường (> 5 mg, tốt hơn là lớn hơn 8 mg mỗi lần giặt).

Điều này có nghĩa rằng trọng lượng trong chế phẩm cao hơn các chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng thông thường. Tốt hơn là, chế phẩm chứa từ 5 đến khoảng 20000 LU/g lipaza. Enzym lipaza đặc biệt ưu tiên đã được công bố dưới nhãn hiệu Lipoclean™ của Novozymes. Lipomax® từ Genencor là cũng được ưu tiên.

Xenlulaza có thể được thêm vào chế phẩm và nếu có, tốt hơn là chế phẩm được điều chế ở độ pH mà hoạt độ của chúng thấp. Thông thường là độ pH kiềm, mặc dù điều kiện có tính axit nhẹ có độ pH = 6,5 hoặc thậm chí thấp như độ pH là 6,2 có thể được chấp nhận. Một lợi thế của sợi cam quýt nghiền so với xenluloza dạng vi sợi có nguồn gốc từ vi khuẩn làm chất tạo cấu trúc ngoài là chi phí thấp hơn và hiệu quả thấp hơn vì chất tạo cấu trúc sợi cam quýt nghiên được kết hợp với lượng cao hơn nhiều so với

MFC. Điều này thể hiện các lợi thế về sức bên tốt hơn đối với sự mất ổn định của hệ cấu trúc do sự tấn công từ xenlulaza. Sợi cam quýt nghiền cung cấp mạng lưới cấu trúc ngoài ổn định với sự có mặt của endoglucanaza, cho phép bổ sung xenluloza này vào chế phẩm lỏng chứa nước có cấu trúc hoặc riêng lẻ, hoặc tốt hơn là kết hợp với lipaza. Hỗn hợp enzym này tốt cho chế phẩm còn chứa polyme loại bỏ chất bẩn để cung cấp hiệu quả tẩy giặt nhiều lần trên một loạt các loại vết bẩn và các loại vải. Chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng đậm đặc có thể chứa hỗn họp như vậy. Xenlulaza cải thiện khả năng làm sạch của vải bông, lipaza cải thiện khả năng làm sạch vết bẩn từ dầu ra khỏi vải bông, và polyeste và polyme loại bỏ vết bẩn còn thúc đẩy những lợi ích làm sạch rửa nhiều lần của chế phẩm tẩy rửa trên các loại vải. 15404

Đối với chế phẩm tẩy rửa có cấu trúc được sử dụng để làm sạch các bề mặt cứng, bao gồm cả chất lỏng rửa chén bằng tay, lipaza giúp loại bỏ vết bẩn dầu mỡ, đặc biệt nếu lượng chất hoạt động bề mặt được sử dụng ở lượng thấp. Xenlulaza giúp phá vỡ những vết bám của thực phẩm.

Các loại chất hoạt động bề mặt là không bị giới hạn. Chất tẩy rửa tổng hợp được ưu tiên. Hỗn họp chất hoạt động bề mặt anion và chất hoạt động bề mặt không phân ly tổng hợp, hoặc toàn bộ hệ chất hoạt động bê mặt anion hoặc hỗn họp của chất hoạt động bề mặt anion với chất hoạt động bề mặt không phân ly hoặc với chất hoạt động bề mặt lưỡng tính hoặc ion lưỡng tính có thể được sử dụng. Tốt hơn là chế phẩm chứa chất hoạt động bề mặt anion (không xà phòng). Tốt hơn là, hệ chất hoạt động bề mặt là hỗn hợp chất hoạt động bề mặt anion alkyl benzen sulphonat mạch thẳng và natri lauryl ete sulfat với các chất hoạt động bề mặt không phân ly rượu béo không phân ly được etoxy hóa. betain, chẳng hạn như sulphobetain được sử dụng như chất hoạt động bề mặt kết hợp.

Lượng chất hoạt động bề mặt có thề nằm trong khoảng từ 0,5 đến

65% trọng lượng, tốt hơn là từ 2,5 đến 60% trọng lượng, tốt hơn nữa là từ 25 đến 50% trọng lượng. Chuyên gia trong lĩnh vực này đánh giá cao rằng nồng độ của các chất hoạt động bề mặt tối ưu phần lớn sẽ phụ thuộc vào loại sản phẩm và phương thức dự định sử dụng.

Lượng chất tạo cấu trúc ngoài là quan trọng. Bởi vì nó được thêm vào phần còn lại của thành phần trong hỗn hợp, gấp gần 20 lần trọng lượng của nước, điều quan trọng là để giữ lượng chất tạo cấu trúc ở mức tối thiểu.

Dưới 0,15% trọng lượng, sợi cam quýt nghiền không cung cấp đủ cho việc tạo cấu trúc. Giới hạn thấp hơn chính xác phụ thuộc vào phần thêm vào phần còn lại của chế phẩm, chuyên gia trong lĩnh vực này sẽ biết rằng mục đích là 15404 để có được một hệ trong đó các lưu biến thể hiện ứng suất đàn hồi tới hạn. Để đảm bảo chức năng tạo huyền phù, tốt hơn là lượng sợi cam quýt nghiền ít nhất là 0,2% trọng lượng. Chế phẩm dạng lỏng được cấu trúc là chất trượt dính mỏng. Độ nhớt rót ra được ưu tiên là nằm trong khoảng từ 20 đến 100 mPa.s và ứng suất đàn hồi hoặc ứng suất tới hạn là khoảng 0,3 Pa.

Chế phẩm tùy ý chứa vật liệu rắn được tạo huyền phù. Vật liệu rắn này có thể là viên nang siêu nhỏ như bao nang chất thơm, hoặc mang các chất phụ gia ở dạng viên nang. Nó có thể thay thế, hoặc bổ sung, ở dạng các thành phần không hòa tan như silicon, vật liệu amoni bậc bốn, polyme không hòa tan, chất làm sáng quang học không hòa tan và tác nhân có lợi khác được biết đến, ví dụ, trong tài liệu EP 1328616. Lượng chất rắn tạo huyền phù có thể nằm trong khoảng từ 0,001 đến hơn 10 hoặc thậm chí 20% trọng lượng. Vật liệu rắn cụ thể để được tạo huyền phù là vật liệu loang quan sát được, ví dụ như vật liệu loang dạng màng phang được mô tả trong EP13119706. Vật liệu loang này có thể chứa một thành phần tách biệt của chế phẩm. Vì vật liệu loang này phải hòa tan trong nước, nhưng không hòa tan trong chế phẩm, nó tốt hơn là làm từ rượu polyvinylic được cải biến để không hòa tan với sự có mặt của chất hoạt động bề mặt anion. Trong trường hợp đó, chế phẩm tẩy rửa chứa một số chất hoạt động bề mặt anion, tốt hơn là chất hoạt động bề mặt anion có lượng là ít nhất 5% trọng lượng.

Theo khía cạnh thứ hai của sáng chế, sáng chế đề xuất quy trình để sản xuất chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng có cấu trúc từ sợi cam quýt nghiền chứa chất tạo cấu trúc từ sợi cam quýt nghiền với lượng ít nhất 0,15% trọng lượng và chất hoạt động bề mặt với lượng ít nhất là 0,5% trọng lượng, quy trình này bao gồm các bước: 15404

a) chọn trái cây họ cam quýt, tốt nhất hơn là loại có lượng đường thấp, chứa axit xitric hoặc xitrat,

b) tạo sợi cam quýt từ trái cây họ cam quýt, tốt nhất là bằng cách chiết,

c) xử lý cơ học sợi cam quýt, bao gồm thực hiện việc cắt với sự có mặt của nước với lượng ít nhất là 15 lần dựa trên trọng lượng các sợi cam quýt, việc cắt này là đủ để gây ra sự rối loạn cấu trúc và hydrat hóa của sợi cam quýt để tạo thành hỗn hợp sơ chế tạo cấu trúc chứa sợi cam quýt nghiền được phân tán; và

d) phân tán tiếp hỗn hợp sơ chế tạo cấu trúc từ sợi cam quýt nghiền thành chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng loại bỏ không khí để tạo thành chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng có cấu trúc ngoài chứa chất hoạt động bề mặt, và

e) bô sung enzym được chọn từ lipaza, xenluloza và hỗn hợp của chúng vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng có cấu trúc ngoài.

Tốt hơn là, chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng ở bước (d) chứa chất nên xitrat. Tốt hơn là, chế phẩm chứa chất tăng tan với lượng nằm trong khoảng từ 1 đến 20% trọng lượng. Nếu chất lỏng trở lên trong suốt và tính khác biệt trực quan của chất tạo cấu trúc ngoài từ sợi cam quýt nghiền là để được sử dụng đầy đủ, chất lỏng tẩy rửa tốt nhất là không chứa chất cản sáng hoặc chất ngọc trai hóa. Tuy nhiên, chế phẩm có thể chứa thuốc nhuộm màu.

Sự phân tán không yêu cầu phải bổ sung các chất hỗ trợ phân tán vào hỗn họp sơ chế đã tạo ra ở bước (c). Tốt hơn là, chất bảo quản sẽ được thêm vào hỗn hợp sơ chế trong hoặc sau bước (c), đặc biệt là nếu hỗn hợp sơ chế được bảo quản trong khoảng thời gian trước khi bổ sung vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng. 15404

Một lợi thế nữa của việc sử dụng các sợi cam quýt nghiền như chất tạo cấu trúc ngoài là, không giống như một số chất tạo cấu trúc ngoài khác, nó có vẻ như không làm thay đổi về loại hoặc lượng bọt được tạo ra bởi chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng. Điều này rất quan trọng vì nó cho phép chất tạo cấu trúc được thêm vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng mà không làm ảnh hường đến đặc tính sử dụng của nó. Đây là trường hợp cụ thể mà chế phẩm được trộn với lượng nước tương đối lớn để dùng cho việc làm sạch. Trong danh mục này có thể được đề cập đặc biệt là chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng, cả cô đặc và pha loãng, chứa trong bình và các định dạng liều lượng, ví dụ như gói, và chế phẩm rửa chén bát bằng tay. Các chế phẩm khác được sử dụng tiếp theo, bao gồm cả chế phẩm tẩy giặt dạng lỏng sử dụng cho việc xử lý trước và chế phẩm làm sạch bề mặt cứng của các loại được sử dụng từ vòi xịt hoặc bơm được cấu trúc thuận tiện cho chất tạo cấu trúc ngoài này, vì nó không tạo ra quá nhiêu bọt khi sử dụng và lượng rất thấp các chất hoạt động bề mặt có thể được cấu trúc. Hơn nữa, chất tạo cấu trúc phù hợp với sự có mặt của lipaza để loại bỏ dầu mỡ, đặc biệt là trong chế phẩm có thể để lại trên bề mặt cứng cho các mục đích loại bỏ mỡ và các chế phẩm làm sạch bề mặt cứng khác. Các chế phẩm có chứa enzym được tạo cấu trúc ngoài phù hợp cho sự tiếp xúc bằng tay sau khi pha loãng để sử dụng, chẳng hạn như rửa chén bát bằng tay và giặt tay.

Chế phẩm tẩy giặt thông thường được phân loại như là chế phẩm tạo ít bọt, được sử dụng trong máy giặt tự động, và chế phẩm tạo nhiều bọt, được sử dụng trong giặt tay và máy giặt cửa trên. Các sợi cam quýt nghiền cung cấp việc tạo cấu trúc cần thiết mà không làm tăng bọt trong các chế phẩm ít tạo bọt và vẫn có đủ bọt trong chế phẩm tạo nhiều bọt.

Mô tả vắn tắt các hình vẽ 15404

Fig. 1 là đồ thị biểu diễn sự lưu biến đối với CF (citrus fibre - sợi cam quýt) nghiền ở các lượng khác nhau;

Fig. 2 là đồ thị biểu diễn sự lưu biến học đối với CF nghiền và HCO (hydrogenated castor oil - dầu thầu dầu được hydro hóa) với Lipex (24 giờ);

Fig. 3 là biểu đồ biểu diễn sự lưu biến học đổi với CF nghiền với xenlulaza;

Fig. 4 là đồ thị biểu diễn sự lưu biến học đối với MFC (microfibrous cellulose - xenluloza dạng vi sợi) với xenlulaza, và

Fig. 5 là đồ thị biểu diễn sự lưu biến học đối với các dung dịch được tạo cấu trúc bằng CF nghiền cùng với polyme hoặc tác nhân chelat hóa.

Trong phần hình vẽ, chữ viết tắt CPF được dùng để chỉ sợi cam quýt nghiền.

Mô tả chi tiết sáng chế

Sợi cam quýt nghiền

Khi được cung cấp ở dạng hỗn hợp sơ chế, lượng sợi cam quýt nghiền trong hỗn họp sơ chế tốt hơn là nằm trong khoảng từ 1 đến 2,5% trọng lượng. Khi được thêm vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng, lượng sợi cam quýt nghiền tốt hơn là nằm trong khoảng từ 0,15% đến 0,35% trọng lượng.

Một loại sợi cam quýt nghiền được đặc biệt ưu tiên là "Herbacel AQ plus citrus fibre" của Herba Foods. Loại sợi cam quýt này có tổng lượng sợi (hòa tan và không hòa tan) lớn hơn 80% và lượng sợi hòa tan lớn hơn 20%. Nó được cung cấp dưới dạng bột khô mịn với màu nhạt và có khả năng kết họp 20 kg nước trong mỗi kg bột. 15404

Do sợi cam quýt nghiên được phân tán có thể bị vi khuẩn phân hủy, tốt hơn là bao gồm chất bảo quản trong hỗn hợp sơ chế. Trong mọi trường hợp, chất bảo quản thường cần thiết trong chế phẩm chất tây rửa dạng lỏng.

Anbeđô của trái cây họ cam quýt là nguồn chính của vỏ cam quýt được sử dụng để làm các sợi cam quýt dạng bột. Nó có một Vi cấu trúc xốp'. Các loại trái cây họ cam quýt (chủ yếu là chanh và chanh lá cam) đều được vắt để loại bỏ màng tế bào thực vật không hòa tan và một số chất đường và pectin chứa bên trong. Nó được sấy khô và sàng sau đó rửa sạch để làm tăng lượng chất xơ. Quá trình tinh chế có thể ngâm các sợi trong dung dịch NaOH (<1%), loại bỏ nước và làm mềm, trước khi cắt, lọc và sấy khô. Vật liệu khô là lớn (mảnh vỡ tế bào 100 micron, bao gồm các sợi nhỏ liên kết/ được liên kết chặt chẽ). Sau khi sấy và nghiền sẽ thu được vật liệu sợi cam quýt bột. Quá tình này để lại nhiều màng tế bào tự nhiên trong khi đó đường được loại bỏ. Vật liệu sợi cam quýt trương nổi lên thu được thường được sử dụng làm phụ gia thực phẩm và đã được sử dụng trong nước sốt ít chất béo. Độ pH của bột phân tán có tính axit là lý tưởng để sử dụng với chất bảo quản như kali sorbat.

Kính hiển vi cho thấy vật liệu sợi bột cam quýt như được cung cấp là hỗn hợp không đồng nhất của các hạt có cỡ và hình dạng khác nhau. Phần lớn các vật liệu bao gồm các khối tích tụ của thành màng tế bào và các mảnh vỡ tế bào. Tuy nhiên, một số cấu trúc hình ống với đường kính mở khoảng

10 micron mà thường được bố trí thành từng cụm, có thể được xác đinh. Các câu trúc này, vì vậy được gọi là, mạch xylem là các đường vận chuyển nước mà chủ yếu là được có tại các vỏ của các loại trái cây họ cam quýt. Các mạch xylem bao gồm các ngăn xếp của các tế bào chết, liên kết với nhau để tạo thành ống dài, dài khoảng 200-300 micron. Bên ngoài của ống được gia 15404 cố bởi lignin, thường được quy định trong các vòng xoắn hoặc ngăn chặn các ống khỏi sự sụp đổ do lực mao dẫn tác động lên các thành ống trong khi vận chuyển nước.

Các sợi cam quýt không chứa polyme hoặc chất phân tán thường được tìm thấy với lượng cao trong chất tạo cấu trúc ngoài khác chứa MFC. Ví dụ, CP Kelco MFC là một hỗn hợp của chất xơ (60%) vói các polyme trương nở khác (40%), chẳng hạn như xanthan, để làm cho nó dễ dàng phân tán. Đối với các ứng dụng mà da được tiếp xúc với chất lỏng, ví dụ chế phẩm rửa bát đĩa bằng tay, sự vắng mặt của polyme như vậy có thể tránh được các thuộc tính tiêu cực cảm quan như nhờn hoặc dính. Sự vắng mặt của bất kỳ chất polyme bổ sung hoặc chất gồm đảm bảo lưu biến của các sợi cam quýt nghiền làm chất tạo cấu trúc ngoài. Nó cũng làm cho chất tạo cấu trúc ngoài này tương thích cao hơn với các polyme khác hoặc chất làm đặc có thể được đưa vào chế phẩm. Đặc biệt là polyme loại bỏ vết bẩn, ví dụ như những chất được thiết kể để loại bỏ bụi bẩn từ vải polyeste, và polyme làm sạch, ví dụ như các hợp chất imin polyetylen etoxy hóa, đặc biệt là PEI 600 20 EO (EPEI): imin polyetylen có trọng lượng phân tử của mạch chính polyme khoảng 600 và trung bình là 20 mol etylen oxit cho mỗi nitơ.

Trước khi có thể được sử dụng làm chất tạo cấu trúc ngoài nó là cấn thiết để xử lý các chất liệu sợi cam quýt thành bột mịn như được cung cấp để phá vỡ các ống làm đầy khoảng trống. Điều này được thực hiện bằng cách phân tán nó ở nồng độ thấp trong nước. Như đã để cập ở trên, chất bảo quản là hữu dụng khi được bổ sung ở giai đoạn này. Việc phân tán cắt tốc độ cao sẽ mở ra cấu trúc xốp để tăng thể tích của giai đoạn này. Việc cắt này không nên quá nhanh để dẫn đến sự tách sợi. Nếu máy trộn đồng nhất hóa áp suất cao được sử dụng nó nên được vận hành ở mức từ 20000 đến 60000 15404 kPa. Càng cắt nhiều thì độ đậm đặc của các hạt thu được càng thấp. Trong khi các hình thái bị thay đôi do thực hiện việc cắt tốc độ cao, quá trình tổng hợp kích thước xuất hiện không bị thay đổi. ở áp suất cao, các sợi bị phá vỡ và sau đó chuyển vào giai đoạn pha nước. Việc cắt tốc độ cao cũng tạo thành sợi bằng cách cọ xát các phần bên ngoài của thành tế bào và chúng có thể tạo thành hệ mà cấu trúc phần nước bên ngoài của lượng sợi ban đầu.

Hỗn hợp sơ chế tạo cấu trúc từ sợi cam quýt nghiền có thể được thực hiện bằng máy trộn cát tốc độ cao, như máy Silverson. Quy trình sơ chế qua nhiều giai đoạn trộn cắt tốc độ cao tuần tự để đảm bảo hydrat hóa hoàn toàn và sự phân tán của sợi cam quýt để tạo xa sự phân tán sợi cam quýt nghiền.

Sau đó, hỗn hợp sơ chế có thể chỉ cần được thêm vào một phần, hoặc để tạo ra hỗn hợp sơ chế chế phảm tẩy rửa dạng lỏng chứa chất hoạt động bề mặt và các chất độn khác của chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng đã được trộn. Các nguyên liệu có thể có ở giai đoạn này là hương liệu, enzym và vật liệu rắn mà sẽ tạo huyền phù bởi các chất tạo cấu trúc ngoài. Vật liệu thêm vào sau đó được thêm vào chế phẩm dạng lỏng được tạo cấu trúc, dưới điều kiện trộn cắt tốc độ thấp.

Sợi cam quýt nghiền được phân tán làm chất tạo cấu trúc ngoài trong sản phẩm chất tẩy rửa dạng lỏng có hình dạng phân biệt được. Các chất tổng hợp lớn tạo ra những tác động đáng kể trên màng thoát nước và số lượng lớn chất lỏng có hình dạng mờ do sự tán xạ ánh sáng cao. Cả hai đặc tính. này là gần với các đặc tính của HCO và có thể làm tăng nồng độ của chất lỏng mà không cần phải nhờ đến mica tạo huyền phù hoặc các chất liệu loang quan sát được khác mà không phải thêm hóa chất có chức năng, không hòa tan, không làm thay đổi vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng này. Việc sử dụng vật liệu không hòa tan trong chất lỏng cô đặc là không được ưu tiên vì nó không 15404 được rửa sạch và có thể có lắng đọng không mong muốn lên vải được làm sạch.

Lợi ích của sợi cam quýt nghiền từ quy trình xử lý không khí cải thiện sự ổn định của chế phẩm dạng lỏng thu được, đặc biệt là sự tách biệt rõ ràng của các lớp cuối cùng. Điều này đã được chứng minh thành công trong 35ml (được gọi là 3x) và 20ml (được gọi là 5x) liều chế phẩm dạng lỏng cho máy giặt có kích thước châu Âu (thường là 7 đến 10 lít). Xenluloza dạng vi sợi (MFC) đã tỏ ra cực kỳ khó khăn để ngăn chặn sự tách lớp đối với liều 20 ml chế phẩm dạng lỏng.

Để thu được chất tạo cấu trúc ngoài thỏa mãn yêu cầu, cần thiết là xử lý sợi cam quýt thành hỗn họp sơ chế và quan trọng là thực hiện việc cắt ở tốc độ cao hơn mức cần thiết để chúng được phân tán. Năng lượng bổ sung là thuận lợi cho việc làm gãy các sợi và nó có thể hỗ trợ cho quá trình hydrat hóa. Chất tạo cấu trúc thường được phân tán khi cắt tốc độ cao để phá vỡ các sợi không hòa tan và để tăng thể tích của hệ tạo cấu trúc bằng cách tối đa hóa sự phá vỡ và tiếp xúc với vật liệu tạo cấu trúc khan. Hỗn hợp sơ chể có thể được hydrat thêm nữa (thêm thời gian) sau quá trình trộn cất tốc độ cao.

Nồng độ của sợi cam quýt nghiền trong hỗn hợp sơ chế phụ thuộc vào khả năng của thiết bị được thực hiện với độ nhớt cao hơn do nồng độ cao hơn. Tốt hơn là, tối thiểu ít nhất là 1% trọng lượng đối với trường hợp thực tế.

Quy trình này mang lại chế phẩm tẩy rửa ổn định với ứng suất tới hạn phù hợp 0,3 Pa, để tạo thể huyền phù vật liệu rắn và bản thân nó đề thu được sự phân tách lóp rõ ràng phía bên trên.

Chất hoạt động bề mặt 15404 về nguyên tắc, chất tạo cấu trúc sợi cam quýt nghiền sẽ tạo cấu trúc với bất kỳ chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa chất hoạt động bề mặt. Tuy nhiên, với mục đích làm sạch, các chất hoạt động bề mặt được ưu tiên hỗ trợ trong việc loại bỏ vết bẩn từ các vật liệu dệt hoặc từ các bề mặt cứng và hỗ trợ trong việc duy trì loại bỏ vết bẩn trong dung dịch hoặc huyền phù trong nước. Do đó, chất hoạt động bề mặt anion và/hoặc không phân ly được ưu tiên, tốt hơn nữa là cung cấp hỗn hợp có chứa canxi.

Alkyl benzen sulphonat mạch thẳng (linear alkyl benzene sulphonate -LAS) được sử dụng riêng thường là không dung nạp canxi. Khi có yêu cầu, để đảm bảo dung nạp canxi, hệ chất hoạt động bề mặt nên tránh có lượng LAS trên 90% trọng lượng. Hệ không phân ly chứa LAS với lượng 95% trọng lượng có thể được thực hiện nếu một số chất hoạt động bề mặt ion lưỡng tính, như sulphobetain. Nói chung tốt hơn là nên sử dụng ít hơn 90% trọng lượng LAS và ít nhất là 10 % trọng lượng chất hoạt động bề mặt không phân ly. Tuy nhiên, lợi thế của việc sử dụng các sợi cam quýt nghiền thay vì HCO là không cần thiết có lượng chất hoạt động bề mặt không phân ly cao trong chế phẩm. HCO thường được thêm vào hỗn hợp từ dung dịch chứa chất hoạt động bề mặt không phân ly và do đó điều này là hạn chế cho chế phẩm. Tốt hơn là, chế phẩm chỉ chứa chất hoạt động bề mặt không phân ly với lượng thấp, hoặc thậm chí loại bỏ thành phần này ra khỏi chế phảm tẩy rửa được thiết kế cho ứng dụng tạo nhiều bọt. Do đó, tốt hơn nếu chế phẩm tạo cấu trúc bằng sợi cam quýt nghiền này chứa chất hoạt động bề mặt không phân ly với lượng nhiếu nhất 2% trọng lượng, tốt hơn nữa là với lượng nhiều nhất 1% trọng lượng, và tốt nhất là không chứa chất hoạt động bề mặt không phân ly. 15404

Alkyl ete sulfat được ưu tiên là C8-C15 alkyl và có 1 đến 10 mol được etoxy hóa. Alkyl sunphat được ưu tiên là alkylbenzen sulfonat, đặc biệt là alkylbenzen sulfonat mạch thăng có độ dài mạch alkyl là 8 đến 15 nguyên tử cacbon. Chất kháng ion đối với chất hoạt động bề mặt anion thông thường là một kim loại kiềm, thường là natri, mặc dù các chất kháng ion khác như MEA, TEA hoặc amoni có thể được sử dụng. Các chất hoạt động bề mặt anion phù hợp có sẵn trên thị trường là các loại "Genapol" ™ của Clariant.

Các chất hoạt động bề mặt không phân ly bao gồm rượu được etoxy hóa bậc một và bậc hai, đặc biệt là các rượu béo etoxy hóa có 8 đến 20 nguyên tử cacboncó trung bình từ 1 đến 20 mol etylen oxit trong môi mol rượu, và đặc biệt hơn là rượu béo được etoxy hóa bậc một và bậc hai có 10 đến 15 nguyên tử cacbon cóetoxy hóa trung bình từ 1 đến 10 mol etylen oxit trong môi mol rượu. Các chất hoạt động bề mặt không phân ly không được etoxy hóa bao gồm alkyl polyglycosit, glyxerol monoete và polyhydroxy amit (glucamit). Hỗn hợp chất hoạt động bề mặt không phân ly có thể được sử dụng. Chế phẩm chứa chất hoạt động bề mặt không phân ly với lượng nằm trong khoảng từ 0,2% trọng lượng đến 40% trọng lượng, tốt hơn là nằm trong khoảng từ 1% trọng lượng đến 20% trọng lượng, tốt hơn nữa là nằm trong khoảng từ 5 đến 15% trọng lượng, như rượu etoxy hóa, nonylphenol etoxy hóa, alkylpolyglycosit, alkyldimetylaminoxit, axit béo etoxy hóa monoetanolamit, axit béo monoetanolamit, axit béo của polyhydroxy alkyl amit, hoặc dẫn xuất N-axyl N-alkyl của glucozamin ("glucamit").

Các chất hoạt động bề mặt không phân ly được ưu tiên có thể được sử dụng bao gồm rượu etoxy hóa bậc một và bậc hai, tốt hơn là rượu béo được etoxy hóa có 8 đến 20 nguyên tử cacbon có trung bình từ 1 đến 35 mol etylen oxit trong môi mol rượu, và tốt hơn nữa là rượu béo bậc một và bậc 15404 hai được etoxy hóa có 10 đến 15 nguyên tử cacbon có trung bình từ 1 đến 10 mol etylen oxit trong mỗi mol rượu.

Các thử nghiệm kiểm tra khả năng dung nạp canxi được sử dụng ở đây được nêu trong tài liệu EP 1771543. Hỗn hợp chất hoạt động bề mặt được điều chế ở nồng độ 0,7 g/l trong nước chứa ion canxi đủ để thu được độ cứng là 40 độ F. Chất điện phân khác như natri clorua, natri sulfat, natri hydroxit được thêm vào như là chất cần thiết đề điều chỉnh nồng độ ion đến

0,5 M và độ pH đến 10. Sự hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 540 nm thông qua 4 mm của mẫu được đo trong 15 phút sau khi điều chế mẫu. Mười phép đo được thực hiện và trị số trung bình được tính. Mẫu cho trị số hấp thu ít hơn 0,08 được coi là dung nạp được canxi.Nước

Chế phẩm chứa nước, nghĩa là nước chiếm ưu thế trong hệ dung môi. Các chất tăng tan như propylen glycol và glyxerol/glyxerin có thể được sử dụng nhưng chúng sẽ có mặt với lượng ít hơn so với nước. Lượng nước tối thiểu trong chế phẩm dạng lỏng chứa nước là 10% trọng lượng. Để kết hợp 0,15% sợi cam quýt nghiền với khả năng hấp thụ nước gấp 20 lần trọng lượng của nó là bình thường để có tối thiểu là 3% trọng lượng nước bổ sung thêm vào sợi cam quýt nghiền (từ hỗn hợp sơ chế). Lượng được ưu tiên là khoảng 0,25% trọng lượng sợi cam quýt nghiền, lượng nước bổ sung vào 2,5% trọng lượng hỗn hợp sơ chế là 9,75%. Nước bổ sung là cần thiết trong chế phẩm để giữ chất hoạt động bề mặt, polyme, chất nền hòa tan, enzym, v.v. trong dung dịch. Lượng nước quy định bao gồm cả nước tự do và nước liên kết.

Chất rắn tạo huyền phù tùy ý _

Vật liệu tạo huyền phù có thể là bất kỳ loại nào. Bao gồm viên nang chất thơm, viên nang bảo quản và/hoặc chất liệu loang quan sát được hoặc 15404 chất làm mờ dạng rắn được tạo huyền phù như là mica hoặc các vật liệu tạo ánh ngọc trai và hỗn hợp của các vật liệu này được tạo huyền phù. Mật độ liên kết của vật liệu của chất lỏng càng gần giống nhau và các chất lỏng càng dày hơn trước khi bổ sung chất tạo cấu trúc ngoài, thì lượng vật liệu có thể bị tạo huyền phù càng lớn. Thông thường, vật liệu rắn không hòa tan có lượng lên đến 5% trọng lượng có thể được tạo huyền phù ổn định bằng cách sử dụng hệ cấu trúc ngoài từ sợi cam quýt nghiền, tuy nhiên trọng lượng có thể lên đến 20% trọng lượng.

Chất làm đặc

Hệ làm đặc polyme có thể được thêm vào chất lỏng để làm tăng độ nhớt và tiếp tục cải biến lưu biến học. Sợi cam quýt nghiền đặc biệt tương thích với hệ làm đặc như vậy và nó tương thích với các chất tạo cấu trúc ngoài khác.

Enzym

Ngoài các enzym cần thiết, một hoặc nhiều enzym có thể có mặt trong chế phẩm của sáng chế và khi thực hiện phương pháp của sáng chế. Các enzym quan trọng là lipaza và/hoặc xenlulaza, tốt nhất là lipaza. Các enzym khác có thể được chọn từ các enzym đã biết mà tương thích với chất hoạt động bề mặt có trong chế phẩm, cụ thể là proteaza, manaza và amylaza.

Lipaza

Lipaza thích hợp bao gồm những chất có nguồn gốc từ vi khuẩn hoặc nấm. Bao gồm cả đột biến biến đổi hóa học hoặc đột biến công nghệ protein. Ví dụ về các lipaza hữu dụng bao gồm các lipaza của Humicola (đồng nghĩa Thermomyces), ví dụ của H. lanuginosa (T. lanuginosus) được mô tả trong tài liệu EP 258 068 và EP 305 216 hoặc của H. insolens như được mô tả 15404 trong WO 96/13580, lipaza Pseudomonas, ví dụ như của p. Alcaligenes hoặc p. pseudoalcaligenes (EP 218 272), P. cepacia (EP 331 376), P. stutzeri (GB 1372034), P. fluorescens, loài Pseudomonas chủng SD 705 (WO 95/06720 và WO 96/27002), P. wisconsinensis (WO 96/12012), lipaza Bacillus, ví dụ như của B. subtilis (Dartois và các đồng sự (1993), Biochemica et Biophysica Acta, 1131, 253-360), B. stearothermophilus (JP 64/744992) hoặc B. pumilus (WO 91/16422). Lipaza được ưu tiên có độ tương đồng cao với lipaza thông thường của Humicola lanuginosa.

Các ví dụ khác là các biến thể lipaza như những loại được mô tả trong WO 92/05249, WO 94/01541, EP 407 225, EP 260 105, WO 95/35381, WO 96/00292, WO 95/30744, WO 94/25578, WO 95/14783, WO 95/22615, WO 97/04079 và WO 97/07202.

Các enzym lipaza có bán trên thị trường được ưu tiên bao gồm Lipolase ™ và Lipolase Ultra ™, Lipex ™ và Lipoclean ™ (Novozymes A / S). Ngoài ra, Lipomax ™ là một lipaza được làm khô lạnh điều chế từ Pseudomonas Alcaligenes (ban đâu từ Gist-brocades, gần đây chủ yếu là từ chi nhánh Genencor của Danisco).

Ngoài ra, hoặc như là phương án thay thế cho lipaza, một hoặc nhiều enzym khác có thể có mặt. Tuy nhiên, lipaza được đặc biệt ưu tiên. Tốt hơn là, lipaza có lượng nằm trong khoảng từ 0,001 đến 0,3% trọng lượng enzym hoạt hóa.

Tốt hơn là, sự có mặt với lượng cao canxi trong chế phẩm tẩy giặt dạng lỏng có hiệu quả đối với các enzym nhất định, đặc biệt là enzym lipaza và tốt hơn là lipaza từ Humicola. 15404

Lipaza được ưu tiên bao gồm lipaza tẩy rửa đầu tiên chứa polypeptit có chuỗi axit amin trong đó có ít nhất 90% tương đồng với các lipaza bình thường có nguồn gốc từ Humicola lanuginosa chủng DSM 4109 và so với lipaza bình thường nói trên, chứa phần tử thế của axit amin trung hòa về điện hoặc điện tích âm trong tại vị trí 15 A của E1 hoặc Q249 với một axit amin mang điện tích dương, và có thể còn bao gồm:

(I) mạch peptit bổ sung ở đầu tận cùng C;

(II) mạch peptit bổ sung ở đầu tận cùng N;

(III) đáp ứng các giới hạn sau:

i. bao gôm axit amin mang điện tích âm ở vị trí E210 của lipaza bình thường nói trên;

ii. bao gồm axit amin mang điện tích âm trong khu vực tương ứng với vị trí từ 90 đến 101 của lipaza bình thường nói trên, và iii. bao gồm axit amin trung hòa hoặc điện tích âm ở vị trí tương ứng với N94 của lipaza bình thường nói trên, và/hoặc iv. có điện tích âm hoặc điện tích trung hòa trong khu vực tương ứng với vị trí từ 90 đến 101 của lipaza bình thường nói trên; và (IV) hỗn hợp của chúng.

Những chất trên có mặt với thương hiệu Lipex™ của Novozymes. Một enzym tương tự của Novozymes, nhưng được cho là nằm ngoài định nghĩa trên đây được bán trên thị trường dưới tên Lipoclean™ là cũng được ưu tiên.

Xenlulaza 15404

Xenlulaza thích họp bao gồm những chất có nguồn gốc từ vi khuẩn hoặc nấm. Bao gồm cả các đột biến cải biến hóa học hoặc các đột biến công nghệ protein. Các xenlulaza thích hợp bao gồm xenlulaza từ các loài Bacillus, Pseudomona, Humicola, Fusarium, Thielavia, Acremonium, ví dụ xenlulaza của nấm được sản xuất từ Humicola insolens, Thielaviơ terrestris, Myceliophthora thermophila, và Fusarium oxysporum được bộc lộ trong US 4,435,307, US 5,648,263, US 5,691,178, US 5,776,757, WO 89/09259, WO 96/029397, và WO 98/012307. Các xenlulaza có bán trên thị trường bao gồm Celluzyme™, Carezyme™, Endolase™, Renozyme™ (Novozymes A/S), Clazinase™ và Puradax HA™ (Genencor International Inc.), và KAC-500 (B)™ (Kao Corporation).

Phospholipaza

Phospholipaza có thể được phân loại như EC 3.1.1.4 và/hoặc EC 3.1.1.32. Như được sử dụng ở đây, phospholipaza là một enzym có hoạt tính gần với phospholipit. Phospholipid như lexithin hoặc phosphatidylcholin, bao gồm glyxerol este hóa với hai loại axit béo trong vị trí vòng ngoài (sn-1) và vị trí giữa (sn-2) và este hóa với axit phosphoric ở vị trí thứ ba, axit phosphoric, lần lượt, có thể được este hóa thành rượu amino. Phospholipaza là enzym tham gia vào quá trình thủy phân các phospholipit. Một số loại phospholipaza hoạt hóa có thể được phân biệt, bao gồm cả phospholipaza A1 và A2 mà thủy phân một trong nhóm axyl béo (trong các vị trí sn-1 và sn-2, tương ứng) để tạo thành lysophospholipit; và lysophospholipaza (hoặc phospholipaza B) mà có thể thủy phân nhóm axyl béo còn lại trong lysophospholipit. Phospholipaza C và phospholipaza D (các phosphodiesteaza) giải phóng lần lượt diaxyl glyxerol hoặc axit phosphatidic. 15404 Proteaza

Proteaza thích hợp bao gồm những chất có nguồn gốc động vật, thực vật hoặc vi khuẩn. Nguồn gốc vi khuẩn được ưu tiên. Bao gồm cả đột biến cải biến hóa học hoặc đột biến công nghệ protein. Proteaza có thể là proteaza serin hoặc proteaza metallo, tốt hơn là proteaza của vi sinh vật có tính kiềm hoặc proteaza tương tự trypsin. Các enzym proteaza có bán trên thị trường được ưu tiên bao gồm Alcalase™, Savinase™, Primase™, Duralase™, Dyrazym™, Esperase™, Everlase™, Polarzyme™, và Kannase™ (Novozymes A/S), Maxatase™, Maxacal™, Maxapem™, Properase™ Purafect™, Purafect OxP™, FN2™, và FN3™ (Genencor International Inc.).

Cutinaza

Cutinaza được phân loại trong EC 3.1.1.74. Cutinaza có thề có nguồn gốc bất kỳ. Tốt hơn là cutinaza có nguồn gốc vi khuẩn, cụ thể là có nguồn gốc từ các vi khuẩn, nấm hoặc nấm men. Amilaza

Amylaza phù hợp (alpha và/hoặc beta) bao gồm amylaza có nguồn gốc từ vi khuẩn hoặc nấm. Bao gồm cả các đột biến cải biến hóa học hoặc các đột biến công nghệ protein. Các amylaza bao gồm, ví dụ, alpha-amylaza thu được từ Bacillus, ví dụ như chủng đặc biệt của B. licheniformis, được mô tả chi tiết trong GB 1,296,839, hoặc chủng Bacillus sp., được bộc lộ trong WO 95/026397 hoặc WO 00/060060. Amylaza có bán trên thị trường là Duramyl™, Termamyl™, Termamyl Ultra™, Natalase™, Stainzyme™, Fungamyl™ và BAN™ (Novozymes A/S), Rapidase™ và Purastar™ (tò Genencor International Inc.). 15404

Peroxydaza/ oxidaza

Peroxidaza/oxidaza thích hợp có nguồn gốc từ thực vật, vi khuẩn hoặc nấm. Bao gồm cả các đột biến cải biến hóa học hoặc các đột biến công nghệ protein. Ví dụ về các peroxidaza hữu dụng bao gồm peroxidaza từ Coprinus, ví dụ từ C. cinereus, và các biến thể của chúng như được mô tả trong WO 93/24618, WO 95/10602, và WO 98/15257. Các peroxidaza có bán trên thị trường bao gồm Guardzyme™ và Novozym™ 51004 (Novozymes A7S).

Lyaza pectat

Lyaza pectat (còn gọi là lyaza polygalacturonat): ví dụ về lyaza pectat bao gồm lyaza pectat đã được tách dòng từ loài vi khuẩn khác nhau như Erwinia, Pseudomonas, Klebsiella và Xanthomonas, cũng như từ Bacillus subtilis (Nasser et al.(1993) FEBS Letts. 335:319-326) và Bacillus sp. YA-14 (Kim và đồng tác giả (1994) Biosci. Biotech. Biochem. 58:947-949). Tinh chế lyaza pectat có hoạt tính mạnh nhất trong khoảng độ pH từ 8 đến

10 được sản xuất bởi Bacillus pumilus (Dave và Vaughn (1971) J. Bacteriol. 108:166-174), B. polymyxa (Nagel và Vaughn (1961) Arch Biochem. Biophys. 93:344-352), B. stearothermophilus (Karbassi và Vaughn (1980) Can. J. Microbiol. 26:377-384), Bacillus sp. (Hasegawa và Nagel (1966) J. Food Sci. 31:838-845) và Bacillus sp. RK9 (Kelly và Fogarty (1978) Can. J. Microbiol. 24:1164-1172) cũng đã được mô tả. Bất kỳ lyaza pectat nêu trên và lyaza pectat hóa trị hai cation độc lập và/hoặc chịu nhiệt có thể được sử dụng. Tốt hơn là, lyaza pectat bao gồm các lyaza pectat được bộc lộ trong Heflron và đông tác giả, (1995) Mol. Plant-Microbe Interact. 8: 331-334 và Henrissat và đồng tác giả (1995) Plant Physiol 107: 963-976. Lyaza pectat cụ thể được công bố trong WO 99/27083 và WO 99/27084. Lyaza pectat khác được dự tính cụ thể (có nguồn gốc từ Bacillus 15404

liccheniformis) đều được bộc lộ trong US 6,284,524. Các biến thể lyaza pectat được dự tính cụ thể được bộc lộ trong WO02/006442, đặc biệt là các biến thể được bộc lộ ở các ví dụ trong WO 02/006442.

Ví dụ về lyaza pectat có tính kiềm có bán trên thị trường bao gồm BIOPREP™ và SCOURZYME™ L của Novozymes A/S, Đan Mạch.

Mananaza

Ví dụ về mananaza (EC 3.2.1.78) bao gồm mananaza có nguồn gốc vi khuẩn và nấm. Các mananaza có thể bắt nguồn từ một chủng nấm sợi chi

Aspergillus, tốt hơn là Aspergillus niger hay Aspergillus aculeatus (WO 94/25576). WO 93/24622 bộc lộ mananaza được phân lập từ Trichoderma reseei. Mananaza cũng được phân lập từ một số vi khuẩn, bao gồm các vi khuẩn Bacillus. Ví dụ, Talbot và đồng tác giả, Appl. Environ. Microbiol., tập

56, số 11, trang 3505-3510 (1990) mô tả beta-mananaza có nguồn gốc từ _

Bacillus stearothermophilus. Mendoza và đông tác giả, World J. Microbiol.Biotech., tập 10, số 5, trang 551-555 (1994) mô tả beta-mananaza có nguồn gốc từ vi khuẩn Bacillus subtilis. JP-A-03047076 bộc lộ beta-mananaza có nguồn gốc từ Bacillus sp. JP-A-63056289 mô tả việc sản xuẩt beta-mananaza kiềm, chịu nhiệt. JP-A-63036775 đề cập đến vi sinh vật Bacillus FERM P-8856 tạo ra beta-mananaza và beta-mannosiđaza. JP-A-08051975 bộc lộ beta-mananaza có tính kiềm từ loài Bacillus sp.AM-001 có tính kiềm Mananaza được tinh chế từ Bacillus amyloliquefaciens được bộc lộ trong WO 97/11164. WO 91/18974 mô tả hemixenlulaza như một glucanaza, xylanaza hoặc mananaza hoạt hóa. Dự tính là những họ mananaza có tính kiềm 5 và 26 có nguồn gốc từ Bacillus agaradhaerens, Bacillus licheniformis, Bacillus halodurans, Bacillus clausii, Bacillus sp., và Humicola insolens được bộc lộ trong WO 99/64619. Đặc biệt được dự tính 15404 là mananaza của Bacillus sp. được sử dụng trong các ví dụ của WO 99/64619.

Ví dụ về mananaza được bán trên thị trường bao gồm Mannaway ™ của Novozymes A/S Đan Mạch.

Bất kỳ enzym nào trong chế phẩm có thể được làm ổn định bằng cách sử dụng các tác nhân ổn định thông thường, ví dụ như, polyol như propylen glycol hoặc glyxerol, rượu đường hoặc đường, axit lactic, axit boric, hoặc dẫn xuất của axit boric, ví dụ, este của borat thơm hoặc dẫn xuất axit boronic phenyl như axit 4 formylphenyl boronic, và chế phẩm có thể được điều chế như được mô tả trong WO 92/19709 và WO 92/19708.

Polyme

Chế phẩm theo sáng chế tùy ý chứa polyme hòa tan được. Polyme được ưu tiên là polyetylen imin PEI 600 (20EO) được cải biến. Polyme loại bỏ vết bẩn, đặc biệt là polyme loại bỏ vết bẩn polyeste có thể được sử dụng. Tốt hơn là, lượng polyme khi được sử dụng là lớn hơn 2% trọng lượng, tốt hơn nữa là lớn hơn 5% trọng lượng, thậm chí lớn hơn 10% trọng lượng. Polyme ngăn ngừa sự lắng đọng lại như natri carboxymetyl xenluloza có thể được bổ sung.

Tác nhân chelat hóa

Chế phẩm theo sáng chế tùy ý chứa tác nhân chelat hóa tan trong nước. Tác nhân chelat hóa phosphonat được ưu tiên. Tốt hơn là, nó được sử dụng với lượng nằm trong khoảng từ 0,3 đến 3% trọng lượng.

Chất độn 15404

Chất độn hòa tan được trong nước có thể có mặt trong chế phẩm theo sáng chế. Sự có mặt của axit xitric còn lại trong sợi cam quýt, mang lại khả năng tương thích cao với axit xitric hoặc xitrat.

Chất tăng tan/tác nhân trung hòa

Như đã đề cập ở trên chế phẩm. theo sáng chế chứa nước nhưng cần giữ chất hoạt động bề mặt và thành phần hòa tan trong nước khác ở lượng cao trong dung dịch có thể cần sự có mặt của dung môi bổ sung hoặc chất tăng tan. Chất tăng tan được ưu tiên là propylen glycol, glyxerol, glyxerin và hỗn hợp của chúng. Chất tăng tan, khi được sử dụng, tốt hơn là có mặt với lượng nằm trong khoảng từ 1 đến 20% trọng lượng.

Chất điều chỉnh độ pH

Chế phẩm có thế chứa thêm MEA và/hoặc TEA và/hoặc natri hydroxit để có tính kiềm. Như đã đề cập ở trên nó có thể bao gồm axit xitric. Tốt hơn là, lượng axit xitric nằm trong khoảng từ 0,5 đến 5% trọng lượng

Chất tăng trắng nhờ hiệu ứng quang học

Tác nhân làm trắng vải hòa tan được trong nước có thể được thêm vào chế phẩm. Việc sử dụng chất tạo cấu trúc ngoài cũng làm cho nó có thể sử dụng OBA không hòa tan nhưng điều này không được ưu tiên nêu mong muốn chế phẩm dạng lỏng này là trong (tức là có thể nhìn xuyên qua nó).

Chất bảo quản

Proxel là chất bảo quản được ưu tiên cho chế phẩm dạng lỏng. Kali sorbat cũng được ưu tiên.

Ví dụ thực hiện sáng chế

Trong các ví dụ dưới đây, các chữ viết tắt sau đây được sử dụng: 15404

CF là Herbacel AQ có thêm sợi cam quýt, vỏ quả cam quýt dạng bột của Herba foods.

MFC là xenluloza dạng vi sợi của CP Kelco.

HCO là dầu thầu dầu hydro hóa Thixin R của Elementis.

LAS là chất hoạt động bề mặt anion natri alkyl benzen sulphonat mạch thẳng .

Axit LAS là dạng axit của LAS.

SLES là natri lauryl ete sulfat với trung bình 3EO.

SLES (1EO) là natri lauryl (C12-14) ete sulfat với trung bình 1 EO.

LES Nat là natri lauryl ete sulfat (SLES 2EO, rượu tự nhiên).

PAS là natri rượu bậc một (alkyl) sulfat (C12-14).

NI là chất họat động bề mặt không phân ly rượu được etoxy hóa.

NI 7EO là rượu được etoxy hóa 7EO (Neodol 25-7 của Shell Chemicals).

91-8 là Neodol rượu không phân ly có 9 đến 11 nguyên tử cacbon với trung bình 8 mol etoxy hóa của Shell Chemicals.

Empigen® BB là alkyl betain của Huntsman.

CAPB là cocamidopropyl betain.

Prifac® 5908 là axit lauric béo bão hòa của Croda.

Prifac® 7907 là axit béo dâu dừa chưng cất hảo hạng của Croda.

MPG là mono propylen glycol.

PPG là propylen glycol (chất tăng tan). 15404

TEA là Trietanolamin. MEA là Monoetanolamin. NaOH là natri hydroxit 47%

Dequest® 2066 là dietylentriamin penta(axit metylen phosphonic (hoặc Heptasodium DTPMP).

Dequest® 2010 là HEDP (1-hydroxyetyliden-1,1',-axit diphosphonic).

Lipex® là Lipex 100L của Novozymes

Carezyme® là xenlulaza của Novozymes

Endolase® là endoxenlulaza thúc đẩy hiệu quả làm trắng của Novozymes

Stainzyme 12L là amylaza trong chế phẩm dạng lỏng của Novozymes Mannaway là mananaza của Novozymes

EPEI là polyme làm sạch imin polyetylen được etoxy hóa PEI 600 20EO của BASF.

SRP là Texcare SRN170 polyme loại bỏ vết bẩn polyeste của Clariant.

Acusol® 190 là chất phân tán canxi polyme polycacboxylat tan trong nước của Dow.

Dowanol DPnB là dipropylen glycol n-butyl ete của Dow.

Ví dụ so sánh A _

Sợi cam quýt dạng bột được bổ sung trực tiếp vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng được điều chề và nổ lực đã được thực hiện để phân tán nó bằng cách sử dụng máy Silverson trộn cắt tốc độ cao. Không có sự tạo cấu trúc 15404 nào được hình thành. Hạt vật liệu được nghiền thành bột được thêm vào không nở ra và chỉ chìm xuống đáy chất lỏng khi việc cắt hoàn thành.

Ví dụ 1

Các hỗn họp sơ chế chứa sợi cam quýt nghiền trong nước với lượng nằm trong khoảng từ 1 đến 2,5% trọng lượng được điều chế bằng cách trộn tốc độ cao. Các tác giả sáng chế sử dụng máy trộn Silverson đặt trong một vòng lặp tái chế xung quanh một bể chứa. Hỗn họp sơ chế được tạo ra là đồng nhất.

Ví dụ 2

Như một phương án thay thế cho ví dụ 1, các tác giả sáng chế sử dụng máy trộn đều áp lực cao để cắt. Như ví dụ 1, thu được hỗn hợp sơ chế được phân tán có cấu trúc đồng nhất. Nồng độ hỗn hợp sơ chế tối đa bị giới hạn bởi độ nhớt tôi đa mà thiết bị có khả năng xử lý.

Ví dụ 3

Hỗn hợp sơ chế của sợi cam quýt nghiền được điều chế ở ví dụ 1 hoặc ví dụ 2 (được sử dụng với lượng 1 hoặc 2% trọng lượng) được thêm vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chứa 40% trọng lượng chất tẩy rửa hoạt hóa (LAS, SLES, NI 1:1:2) và 15% trọng lượng chất tăng tan propylen glycol, yếu tố cân baằg là nước. Hai trình tự bổ sung được sử dụng thành công:

(3 a) nước tự do, hỗn hợp sơ chế sợi cam quýt nghiền sau đó là chất hoạt động bề mặt cô đặc được sơ chế (~ 60% AD), hoặc

(3b) nước tự do, chất hoạt động bề mặt cô đặc sau đó là hỗn hợp sơ chế sợi cam quýt nghiền. 15404

Đối với cả hai quá trình, cần thiết sử dụng bước trộn với cường độ cao (sử dụng máy trộn Silverson L4R ) để tạo thành hỗn hợp của ba loại chất lỏng. Việc tạo cấu trúc thành công đã được chứng minh giảm 0,15% sợi cam quýt nghiền trong chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng cuối cùng. Các tác giả sáng chế đã phát hiện ra rằng tránh sục khí trong suốt quy trình là thuận lợi. Nếu quá nhiều không khí được kết hợp (đặc biệt là ở lượng rất thấp chất tạo cấu trúc), cấu trúc được chứng minh là mất ổn định do bong bóng khí nhỏ dẫn tới sự tách lóp rõ ràng ở đáy.

Ví dụ 4

Phần A: Hỗn họp sơ chế chất tạo cấu trúc

Hỗn hợp sơ chế chất tạo cấu trúc được điều chề bằng cách sử dụng 2% bột Herbacel AQ cùng với sợi cam quýt (loại N), 97,9% nước máy và 0,1% chất bảo quản kali sorbat. Hỗn hợp sơ chế được điều chế bằng cách sử dụng máy trộn đều áp lực cao Gaulin quy mô nhà máy nhỏ hoạt động ở 350 bar (35000 kPa). Hỗn hợp sơ chế sợi cam quýt nghiền (PCF) thu được dễ dàng được xử lý và bơm.

Phần B: chế phẩm tẩy rửa cô đặc dạng lỏng

Trong bể riêng biệt với hỗn hợp sơ chế chất tạo cấu trúc A, chế phẩm tẩy rửa cô đặc dạng lỏng B, có thành phần được thể hiện trong Bảng 1 (trừ 2% trọng lượng hỗn hộp sơ chế PCF và hương liệu) được điều chế bằng cách sử dụng bể chứa quy mô nhỏ công suất 50 lít được trang bị với thiết bị trộn "Hệ thống trộn linh hoạt (FAS)". 12,5% nước đã được loại bỏ từ chế phẩm để cho phép lượng liều của hỗn hợp sơ chế PCF: Phần A là 2%. Hỗn hợp cô đặc này được khử không khí trong hơn 1 giờ.

Bảng 1: Chế phẩm tạo cấu trúc dạng lỏng của Ví dụ 4 15404

Vật liệu

Hoạt độ

Trọng lượng % Nước 9,67 Glyxerol 5,12 PPG (9-21) NaOH 47 5,87 TEA 3,32

NI 7EO 20,59

Axit xitric 50 2,01

Axit LAS 97,1 13,71

Prifac 5908 4,89 SLES 70 9,79

Dequest 2066 32 1,6% PCF 2 12,80

Hương liệu 1,42 TỔNG 100,00 15404

Kết hợp hỗn họp sơ chế chất tạo cấu trúc A với chế phẩm tây rửa cô đặc dạng lỏng B

Hỗn hợp chất tẩy rửa cô đặc B đã được tuần hoàn thông qua một máy cắt tốc độ cao Silverson 150/250 bằng một vòng tái chế để đảm bảo tất cả các dòng đã được tráng đầy đủ và lọc không khí. Lưu lượng 1450 lít/giờ (thời gian lưu qua một lần trong máy nghiền là 0,1 giây). Máy Silverson được bật ở 6250 rpm (9063 w/kg) để mô phỏng điều kiện hoạt động quy mô lớn. Sau đó, hỗn hợp sơ chế chất tạo cấu trúc A được định lượng vào vòng tuần hoàn chính gần đầu vào máy trộn cắt tốc độ cao để làm giảm sự tương tác giữa các dòng trước khi phân tán đều. Hương liệu sau đó được thêm vào bằng cách sử dụng trộn cắt tốc độ thấp.

Sau đó, chất lỏng có cấu trúc sợi cam quýt nghiền được lấy mẫu và đo độ lưu biến của nó. Một lần nữa, sau khi bảo quản 1 tuần ở nhiệt độ môi trường xung quanh, độ lưu biến được đo lại và các mẫu được đánh giá bằng trực quan để xem có sự tách lóp rõ ràng phía trên hoặc sự tách lóp rõ ràng dưới đáy.

Các lưu biến cần thiết cho việc làm đặc và tạo huyền phù thu được và được duy trì và không quan sát được sự phân tách.

Ví dụ 5 - thay đổi lượng chất tạo cấu trúc

Ví dụ 4 được lặp lại, nhưng lượng PCF trong hỗn hợp sơ chế A được thay đối để khi thêm vào hỗn hợp chất tây rửa cô đặc B lượng cuối của PCF trong chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng chỉ là 0,12%. Lưu biến học của chế phẩm dạng lỏng này là không đủ cho để tạo huyền phù. Quan sát Fig. 1, trong đó cho thấy rằng với 0,12% PCF thì chế phẩm không đủ sự ổn định và độ nhớt (ứng suất tới hạn thấp). Điầu này là do không đủ PCF có mặt để thiết lập hệ 15404 ổn định mà có nhiệm vụ tạo huyền phù. Sau đó, quá trình này được lặp lại để tạo ra chế phẩm dạng lỏng chứa 0,16% trọng lượng chất tạo cấu trúc ngoài PCF. Sau khi bảo quản trong một tuần, chế phẩm dạng lỏng này có dấu hiệu tách lóp rõ ràng. Điều này là ở giới hạn có thể chấp nhận được. Có thể là quá trình khác nhau, hoặc thành phần khác nhau của chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng ở phần B, có thể tạo ra cấu trúc thậm chí lượng thấp này, nhưng nó phải được coi là lượng chất tạo cấu trúc ít được ưu tiên và chỉ ra một giới hạn thấp hơn là khoảng 0,15%. Cuối cùng, lượng chất tạo cấu trúc PCF được tăng lên đến 0,32%. Các tác giả sáng chế phát hiện ra rằng sự kết họp của các hàm lượng và thu được một ứng suất đàn hồi (thông qua các điều kiện điều chế và các thành phần khác có mặt) là quan trọng đối với việc tạo cấu trúc hiệu quả.

Lipaza có thể được thêm vào chế phẩm dạng lỏng trong ví dụ 4 và ví dụ 5 được tạo cấu trúc bằng PCF mà không bị mất cấu trúc.

Ví dụ 6 và ví dụ so sánh B - tính bên lipaza của chất tạo cấu trúc

Thành phận cơ bản của chế phẩm dạng lỏng được sử dụng trong ví dụ 6 và ví dụ so sánh B được nêu trong bảng 2:

Bảng 2 - Thành phần chế phẩm của ví dụ 6 và ví dụ so sánh B

Nguyên liệu

Hoạt độ

Trọng lượng % Glyxerin 5,00 MPG 18,00

NI 7EO 12,7 15404

Axit LAS 97,1

8,5 %

Prifac 5908 3,0 SLES 70 4,2

Hương liệu 2,4 PCF* 2 0,25 NaOH 47 PH7 Nước

Đến 97% TỔNG 97,00 * VÍ dụ so sánh B, là giải pháp kỹ thuật đã biết, được tạo cấu trúc bằng

0,25% trọng lượng HCO, được kết tinh từ sự nóng chảy, thay cho PCF trong bảng 2.

3% "lỗ" đã được nạp đầy với hoặc 100L Lipex® hoặc 30 phần sorbitol/64 phần nước khử khoáng, tức là dung môi/chất ổn định thay cho Lipex có bán sẵn trên thị trường.

Độ lưu biến được đo ở 25°C sử dụng máy đo lưu biến Anton Paar ASC.

Fig. 2 cho thấy số liệu lưu biến sau 24 giờ. Ví dụ so sánh B cho thấy khi sử dụng Lipex trong chế phấm dạng lỏng được câu trúc HCO có sự mất hoàn toàn việc tạo cấu trúc trong vòng 24 giờ ở nhiệt độ môi trường xung quanh. Ngược lại, Lipex không ảnh hưởng đến chế phẩm dạng lỏng được tạo cấu trúc bằng PCF, như trong ví dụ 6. 15404

Ví dụ 7 và ví dụ so sánh C - tính bên xenlulaza của chất tạo cấu trúc

Xenlulaza không được thử nghiệm trên HCO, vì không được mong đợi là xenlulaza sẽ có bất kỳ ảnh hưởng nào trên vật liệu có dấu như vậy.

Trong ví dụ 7, hai loại xenlulaza được thêm vào chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng được tạo cấu trúc bằng 0,25% PCF, như được mô tả trong ví dụ 4.

Fig. 3 cho thấy ảnh hưởng của từng loại xenlulaza thêm vào với lượng 1%. Có thể thấy rằng đối với cả carezym và endolaza không có ảnh hưởng đáng kể đến sự lưu biến sau 2 tuần bảo quản ở 37°C. Fig. 4 cho thấy kết quả tương ứng với ví dụ so sánh C, là chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng được tạo cấu trúc bằng cách phân tán hỗn hợp sơ chế chứa MFC với lượng 0,1% trọng lượng bằng cách sử dụng quá trình tương tự ví dụ 4 nêu trên. Có thể thấy rằng đối với việc bổ sung xenlulaza (carezym 1%) ở 37 °C, có sự sụt giảm ban đầu về độ nhớt ở trạng thái ổn định mà có thể do xenlulaza tấn công một phần chất tạo cấu trúc, nhưng không làm cho nó bị hư hại như chế phẩm chứa HCO với lipaza. Rõ ràng là điều này gây ra sự giảm sút trong khoảng giữa độ nhớt khi tĩnh (không có tính trượt) và độ nhớt khi rót (tính trượt cao); khoảng này là thấp hơn so với khoảng thu được với chế phẩm tạo cấu trúc bằng PCF trong ví dụ 6.

Ví dụ từ 8 đến 26 ví dụ về các chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng có cấu trúc PCF

Bảng 3 cho thấy một số chế phẩm tẩy rửa dạng lỏng có chức năng tẩy rửa cao được tạo cấu trúc bằng sợi cam quýt nghiền. Ví dụ 8, 9, 10 và 11 là chế phẩm tẩy giặt dạng lỏng đậm đặc gấp 3 lần phù hợp để sử dụng với lượng khoảng 35 ml trong máy giặt tự động cửa trước tiêu chuẩn châu Âu.

Ví dụ 12, 13, và 14 là chế phẩm phù họp để sử dụng với lượng 20 ml trong cùng loại máy giặt. 15404

Bảng 3

Chế phẩm

Ví dụ 8

Ví dụ 9

Ví dụ 10

Ví dụ 11

Ví dụ 12

Ví dụ 13

Ví dụ 14

Vật liệu đủ 100% đủ 100% đủ 100% đủ 100% đủ 100% đủ 100% đủ 100%

Axit LAS 16,00 4,85 13,40 8,75 8,49 8,49 8,49 SLES 6,00 2,42 6,70 6,82 4,24 4,24 4,24

NI 7EO 2,00 7,28 20,12 4,58 12,74 12,74 12,74

Prifac 5908 0,85 4,78 3,00 1,50 1,50 3,03

Empigen BB 0,86 1,50 1,50 1,50 EPEI 3,10 3,00 5,50 5,50 5,50 SRP 2,10 3,75 3,75 NaOH 1,61 0,07 2,70 0,07 0,07 MEA 7,00 TEA 2,75 2,00 3,23 2,50 3,50 3,50 11,00 dung dịch axit xitric 0,98 3,90 1,71 MPG 15,00 09h00 11,00 20,00 20,00 20,00 15404 Glyxerol 5,00 5,00

Heptasodium DTPMP 0,50 0,88

Dequest 2010 1,50 2,62

Chất cản s ng 0,10

Chất tạo huỳnh quang 0,20 0,10 0,10 0,10 0,10 0,18 Proteaza 1,00 1,00 1,75 1,75 2,36

Stainzym 12L 0,40 0,400 0,700 0,700 0,945

Carezym 1000L 0,95

Lipex hoặc Lipoclean 100L 2,00 2,00 2,00 2,00 3,00 3,00 3,00 Mannaway 0,40 0,40 0,70 0,70 0,35 PCF 0,25 0,25 0,25 0,25 0,25 0,25 0,25

Chất bảo 0,02 0,16 15404 quản

Hương liệu 1,39 1,39 1,39 2,43 2,43 2,43

Nước và các tạp chất 69,17 57,67 27,94 37,4 29,77 27,15 20,435 TỔNG

Bảng 4 cho thấy độ lưu biến thu được bởi các biến thể của ví dụ 12 và

14. Các ví dụ từ 15 đến 18 được thử nghiệm như mô tả ở trên thu được profin lưu biến học được thể hiện trong Fig. 5 mà không cần thêm enzym.

Dựa trên kết quả về sự thiếu hiệu quả của lipaza trên các chế phẩm tương tự, việc bổ sung lipaza sẽ không ảnh hưởng đến độ lưu biến. Lipaza và xenlulaza có thể được thêm vào mà không ảnh hưởng đến sự ổn đinh của profin lưu biến theo thời gian. Những ví dụ này cho thấy độ lưu biến thu được hữu dụng với mức độ làm sạch và polyme tách vết bẩn, cũng như việc bổ sung lượng lớn polyme và lượng tương đối lớn tác nhân chelat hóa. Tất cả những thành phần này có thể có ảnh hưởng bất lợi đến độ lưu biến.

Bảng 4

Ví dụ 15

Ví dụ 16

Ví dụ 17

Ví dụ 18 Glyxerin 4,27 4,27 4,10 4,98 MPG 15,38 15,38 14,76 17,94

NI 7EO 10,85 10,85 10,41 12,66 AxitLAS 7,26 7,26 6,97 8,47 15404

Prifac 5908 2,56 2,56 2,46 2,99 SLES 3,59 3,59 3,44 4,19 PCF 0,21 0,21 0,20 0,25 EPEI 0 5,5 5,5 0

Empigen BB 0 1,5 1,5 0 SRP 0 3,68 3,68 0

Dequest 2010 0 0 2 2 Lipaza* 3,00 3,00 3,00 3,00 Nước lượng vừa đủ lượng vừa đủ lượng vừa đủ lượng vừa đủ * Lỗ 3% còn lại chứa các enzym lipaza. Bảng 5 - Chất tẩy rửa dùng cho gia đình

Thành phần

Ví dụ 19

Ví dụ 20

(% trọng lượng)

Chất tẩy nhà bếp

Chất tẩy phòng tắm Nước 89,86 90,29 91-8 5 3,5

Acusol 190 (24,8% hoạt hóa) 0,5 0,5

Axit xitric có độ pH 4 1 4 15404 MEA 1 -

Hương liệu 0,3 0,29

Dowanol DPnB 1 -

Chất bảo quản 0,016 0,016

Prifac 7907 0,18

Silicone DB310 (36,2% hoạt hóa) 0,001 -

Natri hydroxit 0,893 1,154 PCF 0,25 0,25

Bảng 6 - Nước rửa bát

Ví dụ (% trọng lượng) 21 22 23 24 25 26 LAS 10,50 11,81 19,65 11,55 0,00 2,54

SLES mo 3,06 3,45 0,00 2,19 8,75 0,00

LES Nat 0,00 0,00 3,50 0,00 0,00 3,24 PAS 0,44 0,49 0,00 0,00 0,00 0,00 CAPB 0,00 0,00 0,00 0,70 2,89 0,96 15404 MgS04.7H20 0,61 0,66 0,00 0,00 0,20 0,00 NaCl 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,96 Urê 0,00 4,38 2,63 0,00 0,00 Etanol 10,50 11,81 19,65 11,55 0,00 2,54 PCF 0,25 0,25 0,25 0,25 0,25 0,25

Chất bảo quản 0,015 0,015 0,015 0,015 0,015 0,015 Nước đến đủ 100 đến đủ 100 đến đủ 100 đến đủ 100 đến đủ 100 đến đủ 100

Tất cả chế phẩm dạng lỏng trong các ví dụ từ 19 đến 26 chỉ đơn giản là có chứa lipaza và/hoặc xenlulaza với lượng nằm trong khoảng từ 0,0001 đến 5% trọng lượng, tốt hơn là nằm trong khoảng từ 0,001 đến 0,3% trọng lượng. Độ lưu biến tạo cấu trúc không bị ảnh hưởng bởi enzym này.

10. Nội dung có thể chuyển giao

Liên hệ trực tiếp

11. Thị trường ứng dụng
12. Hình ảnh minh họa
In bài viết
Các phát minh, sáng chế khác
 
Banner
Banner home right