Trang chủ Bằng phát minh, sáng chế • Liên hệ     • Giới thiệu     • Tài liệu hướng dẫn

Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong

Cập nhật Thứ sáu - 09/06/2017 10:33 In bài viết

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0016662
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ chế tạo máy - tự động hóa (Sáng chế)
4. Ngày công bố 25/04/2017
5. Ngày cấp 25/04/2017
6. Chủ sở hữu chính JXNIPPONOIL&ENERGYCORPORATION
7. Tác giả YAGUCHI Akira (JP), YAGISHITA Kazuhiro (JP), HOSHINO Koji (JP),MATSUI Shigeki (JP)
8. Điểm nổi bật
Sáng chế đề cập đến chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong mà có thể làm giảm một cách đủ hiệu quả lực ma sát trong điều kiện bôi trơn hỗn hợp và có các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu rất tốt. Chế phẩm dầu bôi trơn này chứa (A) dầu gốc có độ nhớt động học ở 100°C nằm trong khoảng từ 2 đến 8mm2/s và lượng chất thơm thấp hơn hoặc bằng 10% theo khối lượng, (B) chất tẩy rửa kim loại có tỷ lệ kim loại nằm trong khoảng từ 1,01 đến 3,3 được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ và (C) hợp chất molypđen hữu cơ với lượng molypđen nằm trong khoảng từ 0,01 đến 0,2% theo khối lượng dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm và có độ nhớt ở tốc độ cắt cao ở nhiệt độ cao (High temperature high shear - HTHS) ở 100°C thấp hơn hoặc bằng 5,5mPa.s.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp

Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập

Sáng chế đề cập đến chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong.

Tình trạng kỹ thuật của sáng chế

Thông thường, dầu bôi trơn được sử dụng cho động cơ đốt trong, bộ truyền động hoặc các thiết bị cơ khí khác để tạo thuận lợi cho quá trình vận hành một cách êm ái của chúng. Cụ thể, dầu bôi trơn (dầu động cơ) dùng cho động cơ đốt trong cần phải có mức hiệu suất cao vì động cơ đốt trong đã được cải thiện về tính năng, nâng cao hiệu suất và được sử dụng trong các điều kiện hoạt động khắc nghiệt. Do đó, dầu động cơ thường được trộn với các chất phụ gia khác như chất chống mòn, chất tẩy rửa kim loại, chất phân tán không tạo tro và chất chống oxy hóa để thỏa mãn các tính năng cần thiết này (ví dụ, xem các tài liệu patent từ 1 đến 3 dưới đây). Hơn nữa, gần đây dầu bôi trơn cần phải có tính năng tiết kiệm nhiên liệu ngày càng tốt hơn nữa và do đó việc sử dụng dầu gốc có chỉ số độ nhớt cao hoặc các chất điều chỉnh ma sát khác nhau đã được nghiên cứu (ví dụ, xem tài liệu patent 4 dưới đây).

Danh sách tài liệu trích dẫn

Tài liệu patent

Tài liệu patent 1: Công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản số 2001-279287

Tài liệu patent 2: Công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản số 2002-129182

Tài liệu patent 3: Công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản chưa xét nghiệm số 08-302378.

Tài liệu patent 4: Công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản chưa xét nghiệm số 06-306384 16662

Đối với kỹ thuật tiết kiệm nhiên liệu nói chung, kỹ thuật đã biết là làm giảm độ nhớt động học của dầu bôi trơn và tăng chỉ số độ nhớt của nó (kỹ thuật tạo dầu đa cấp đó là kết hợp dầu gốc có độ nhớt thấp và chất cải thiện chỉ số độ nhớt). Kỹ thuật khác đó là phương pháp trong đó lực ma sát được làm giảm dưới điều kiện bôi trơn ở đó các phần rắn tiếp xúc với nhau, tức là, trong điều kiện bôi trơn hỗn hợp. Đối với động cơ, kiểu điều kiện bôi trơn này xuất hiện ở hệ thống van dẫn động mà truyền động cho các van hoặc tại điểm chết trên hoặc điểm chết dưới của pittông với tốc độ chậm. Để làm giảm lực ma sát này, chất phụ gia được hấp phụ lên các phần mà tại đó xảy ra sự tiếp xúc giữa phần chất rắn để làm giảm sự tiếp xúc. Chất phụ gia này thường được gọi là "chất điều chỉnh ma sát".

Mặc dù nhiều hợp chất khác nhau đã được sử dụng làm chất điều chỉnh ma sát, các hợp chất này đều cỏ cấu trúc cơ bản đó là có nhóm alkyl hoặc alkenyl mạch thẳng và nhóm phân cực có khả năng hấp phụ lên bề mặt kim loại. Ví dụ về nhóm phân cực bao gồm các nhóm khác nhau như nhóm axit carboxylic, amin, amit, hyđroxyl, axit phosphoric, axit phosphorơ và nhóm tương tự. Có nhiều hợp chất trong đó nhiều nhóm phân cực thuộc loại giống nhau hoặc khác nhau tồn tại trong mỗi phân tử và cấu trúc của chúng cực kỳ phức tạp. Hợp chất molypđen hữu cơ đã được biết là chất điều chỉnh ma sát rất hiệu quả.

Để cải thiện hơn nữa đặc tính tiết kiệm nhiên liệu, hỗn hợp của dầu gốc hiệu suất cao hoặc bổ sung chất cải thiện chỉ số độ nhớt hiệu quả cao mà không phải bổ sung chất điều chỉnh ma sát đã được nỗ lực nghiên cứu và đặc tính tiết kiệm nhiên liệu đã được cải thiện. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng, cần phải cải thiện hơn nữa về đặc tính tiết kiệm nhiên liệu.

Bản chất kỹ thuật của sáng chế

Vấn đề kỹ thuật cần được giải quyết

Sáng chế đã được tạo ra khi xem xét các vấn đề nêu trên và mục đích của sáng chế đề xuất chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong, chế phẩm này có độ 16662 nhớt động học và độ nhót ở tốc độ cắt cao ở nhiệt độ cao cũng như độ nhớt ở nhiệt độ thấp giảm trong khi làm giảm một cách hiệu quả lực ma sát trong điều kiện bôi trơn hỗn hợp để có các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu rất tốt.

Cách thức giải quyết vấn đề

Để đạt được mục đích nêu trên, sáng chế đề xuất chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong như mô tả dưới đây.

1) Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong chứa (A) dầu gốc có độ nhớt động học ở 100°C nằm trong khoảng từ 2 đến 8mm2/s và lượng chất thơm thấp hơn hoặc bằng 10% theo khối lượng, (B) chất tẩy rửa kim loại có tỷ lệ kim loại nằm trong khoảng từ 1,01 đến 3,3 được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ, và (C) hợp chất molypđen hữu cơ với lượng molypđen nằm trong khoảng từ 0,01 đến 0,2% theo khối lượng dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm và có độ nhớt ở tốc độ cắt cao ở nhiệt độ cao (High temperature high shear - HTHS) ở 100°C thấp hơn hoặc bằng 5,5mPa • s.

2) Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo mục 1 nêu trên, trong đó (B) chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ là salixylat của kim loại kiềm thổ.

3) Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo mục 1 hoặc mục 2, trong đó (B) chất tẩy rửa kim loại là chất tẩy rửa kim loại được tạo ra bằng cách kiềm hóa quá mức hỗn họp của (B-1) chất tẩy rửa kim loại có nhóm alkyl hoặc alkenyl có từ 8 đến 19 nguyên tử cacbon với lượng nằm trong khoảng từ 55 đến 100% theo khối lượng và (B-2) chất tẩy rửa kim loại có nhóm alkyl hoặc alkenyl có từ 20 đến 40 nguyên tử cacbon với lượng nằm trong khoảng từ 0 đến 45% theo khối lượng, bằng borat của kim loại kiềm thổ.

4) Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo mục bất kỳ trong số các mục từ 1 đến 3 nêu trên, trong đó (B) lượng chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ nằm trong khoảng từ 0,01 đến 15% theo khối lượng dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn.

5) Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo mục bất kỳ trong số 16662 các mục từ 1 đến 4 nêu trên, trong đó (C) hợp chất molypđen hữu cơ là molypđen đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa hoặc oxymolypđen đithiophosphat được lưu huỳnh hóa.

6) Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo mục bất kỳ trong số các mục từ 1 đến 5 nêu trên, trong đó lượng tro được sulfat hóa nằm trong khoảng từ 0,1 đến 1,5% theo khối lượng.

Theo sáng chế, chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong có thể được tạo ra, chế phẩm này được làm giảm về độ nhớt động học và độ nhớt ở tốc độ cắt cao ở nhiệt độ cao cũng như độ nhớt ở nhiệt độ thấp trong khi làm giảm một cách hiệu quả lực ma sát trong điều kiện bôi trơn hỗn hợp để có được đặc tính tiết kiệm nhiên liệu hữu hiệu hơn nữa.

Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong được sử dụng thích hợp cho các động cơ động cơ xăng, động cơ điêzel và động cơ khí của các phương tiện giao thông hai bánh và bốn bánh, máy phát điện và đồng phát điện và ngoài ra, không chỉ những động cơ sử dụng nhiên liệu với lượng lưu huỳnh bằng 50ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, mà còn cả cho các động cơ khác của tàu thủy và động cơ gắn ngoài. Cụ thể, chế phẩm dầu bôi trơn được sử dụng cho động cơ đốt trong của ôtô, tốt hơn nữa dùng cho động cơ xăng của ôtô, tốt nhất là dùng cho động cơ xăng của phương tiện giao thông lai. Chế phẩm này giải quyết nhu cầu về hiệu quả nhiên liệu trong khi đáp ứng được quy định về khí thải khắt khe nhất.

Mô tả chi tiết sáng chế

Các phương án thích hợp theo sáng chế sẽ được mô tả chi tiết hơn dưới đây.

Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế chứa (A) dầu gốc có độ nhớt động học ở 100°C nằm trong khoảng từ 2 đến 8mm2/s và lượng chất thơm thấp hơn hoặc bằng 10% theo khối lượng, (B) chất tẩy rửa kim loại có tỷ lệ kim loại nằm trong khoảng từ 1,01 đến 3,3 được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ và (C) hợp chất molypđen hữu cơ với lượng molypđen nằm trong 16662 khoảng từ 0,01 đến 0,2% theo khối lượng dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm và có độ nhót HTHS ở 100°C thấp hơn hoặc bằng 5,5mPa. s.

Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế chứa (A) dầu gốc bôi trơn có độ nhớt động học ở 100°C nằm trong khoảng từ 2 đến 8mm2/s và lượng chất thơm thấp hơn hoặc bằng 10% theo khối lượng (sau đây được gọi là "dầu gốc bôi trơn theo sáng chế").

Ví dụ về dầu gốc bôi trơn theo sáng chế bao gồm các dầu gốc bôi trơn có độ nhớt động học ở 100°C nằm trong khoảng từ 2 đến 8mm2/s được chọn từ dầu gốc khoáng parafin có thể được tạo ra bằng cách cho phân đoạn dầu bôi trơn được tạo ra bằng cách chưng cất tại áp suất khí quyển và/hoặc chưng cất chân không dầu thô, tham gia một trong số hoặc bất kỳ sự kết hợp thích hợp nào của các quá trình tinh chế được chọn từ quá trình loại asphan bằng dung môi, chiết bằng dung môi, hyđrocracking, hyđro đồng phân hóa, loại bỏ sáp bằng dung môi, loại bỏ sáp bằng xúc tác, tinh chế bằng hyđro, xử lý bằng axit sulfuric và xử lý đất sét; các n-parafin; và iso-parafm.

Ví dụ về dầu gốc khoáng ưu tiên bao gồm các dầu gốc được tạo ra bằng cách tinh chế các dầu gốc từ mục (1) đến (7) dưới đây và/hoặc các phân đoạn dầu bôi trơn thu hồi được từ đó bằng quy trình xác định để thu hồi các phân đoạn dầu bôi trơn:

(1) phân đoạn dầu gazoin chưng cất toàn phần (Whole vacuum gas oil -WVGO) được tạo ra bằng quá trình chưng cất chân không phân đoạn dầu khử ngọn của dầu thô gốc parafin và/hoặc dầu thô gốc hỗn hợp;

(2) sáp được tạo ra bằng cách tách parafin của dầu bôi trơn (sáp mềm) và/hoặc sáp tổng hợp được tạo ra thông qua quá trình chuyển hóa khí sang lỏng (Gas to liquid -GTL) (sáp Fischer-Tropsch, sáp GTL);

(3) dầu hỗn hợp của một hoặc nhiều loại được chọn từ các dầu gốc (1) và (2) nêu trên hoặc dầu được tạo ra bằng cách hyđrocracking nhẹ dầu hỗn hợp;

(4) dầu hỗn hợp của hai hoặc nhiều dầu gốc được chọn từ (1) đến (3) nêu trên;

(5) dầu loại asphan (Deasphalted oil - DAO) được tạo ra bằng cách loại asphan phần cặn chưng cất chân không của dầu khử ngọn của dầu thô parafin và/hoặc dầu thô gốc hỗn hợp; 16662

(6) dầu được tạo ra bằng cách hyđrocracking nhẹ (Mild-hydrocracking -MHC) phân đoạn dầu gốc (5);

(7) dầu hỗn hợp của hai hoặc nhiều dầu gốc được chọn từ mục (1) đến (6) nêu trên.

Quy trình tinh chế nêu trên tốt hơn là quy trình tinh chế bằng hyđro như hyđrocracking hoặc quy trình tinh chế hoàn thiện bằng hydro, tinh chế bằng dung môi như chiết xuất bằng furfuran, loại bỏ sáp như loại bỏ sáp bằng dung môi và loại bỏ sáp bằng xúc tác, tinh chế bằng đất sét với đất sét axit hoặc đất sét hoạt tính hoặc tinh chế bằng hóa chất (axit hoặc kiềm) như xử lý bằng axit sulfuric và xử lý bằng natri hyđroxit. Theo sáng chế, bất kỳ một hoặc nhiều quá trình tinh chế này có thể được sử dụng theo cách kết hợp bất kỳ và theo thứ tự bất kỳ.

Ngoài ra, dầu gốc bôi trơn theo sáng chế đặc biệt tốt hơn là dầu gốc (8) dưới đây được tạo ra bằng cách xử lý dầu gốc được chọn trong số các dầu gốc từ mục (1) đến (7) nêu trên hoặc phân đoạn dầu bôi trơn thu hồi được từ dầu gốc trong quy trình xử lý xác định:

(8) dầu khoáng đã hyđrocracking được tạo ra bằng cách hyđrocracking dầu gốc được chọn trong số các dầu gốc từ mục (1) đến (7) hoặc phân đoạn dầu bôi trơn thu được từ đó và xử lý loại bỏ sáp sản phẩm tạo ra hoặc phân đoạn dầu bôi trơn thu được từ đó bằng cách chưng cất xử lý loại bỏ sáp như loại bỏ sáp bằng dung môi hoặc loại bỏ sáp bằng xúc tác, sau đó tùy ý chưng cất.

Nếu cần, quá trình tinh chế bằng dung môi và/hoặc quá trình tinh chế hoàn thiện bằng hydro có thể được thực hiện bổ sung tại thời điểm thích hợp trong khi sản xuất dầu gốc bôi trơn trong mục (8) nêu trên.

Chỉ số độ nhớt của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế tốt hơn là 100 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 120 hoặc cao hơn, tốt nhất là 130 hoặc cao hơn và tốt hơn là 160 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 150 hoặc thấp hơn. Chỉ số độ nhớt thấp hơn 100 sẽ không chỉ làm cho các đặc tính độ nhớt - nhiệt độ, độ ổn định nhiệt/oxy hóa, đặc tính chóng bay hơi bị suy giảm, mà còn làm cho hệ số ma sát tăng lên và có thể làm cho hệ số ma sát tăng lên và làm cho đặc tính chống mài mòn bị suy giảm. Chỉ số độ nhót cao hơn 160 16662 sẽ thường làm giảm các đặc tính độ nhớt ở nhiệt độ thấp.

Chỉ số độ nhớt trong bản mô tả này được dùng để chỉ chì số độ nhớt được xác định theo tiêu chuẩn JIS K 2283-1993.

Nồng độ bão hòa của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế tốt hơn là 90% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 95% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 97% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất bằng 99% theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng của dầu gốc bôi trơn.

Lượng chất bão hòa thấp hơn 90% theo khối lượng sẽ làm cho các đặc tính độ nhớt - nhiệt độ, độ ổn định nhiệt/oxy hóa và đặc tính ma sát không đủ hiệu quả.

Lượng chất thơm của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế cần phải là 10% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn là 5% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 2% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất là 0,5% theo khối lượng hoặc thấp hơn dựa trên tổng khối lượng của dầu gốc bôi trơn.

Để bảo đảm độ hòa tan của chất phụ gia, dầu gốc bôi trơn chứa chất thơm với lượng tốt hơn là 0,01% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,05% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,1% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất là cao hơn 0,1% theo khối lượng.

Nếu lượng chất thơm vượt quá giới hạn trên nêu trên, chế phẩm tạo ra thường bị suy giảm về các đặc tính độ nhớt - nhiệt độ, độ ổn định nhiệt/oxy hóa, đặc tính ma sát, đặc tính chống bay hơi và đặc tính độ nhớt ở nhiệt độ thấp và hiệu quả của chất phụ gia nếu được bổ sung vào dầu gốc bôi trơn.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với %Cp của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế, tuy nhiên, giá trị này tốt hơn là 70 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 80 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 85 hoặc cao hơn, tốt nhất là 88 hoặc cao hơn và tốt hơn là 99 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 97 hoặc thấp hơn, tốt nhất là 95 hoặc thấp hơn. Nếu như giá trị %Cp của dầu gốc bôi trơn thấp hơn 70, chế phẩm tạo ra thường bị suy giảm về các đặc tính độ nhớt - nhiệt độ, độ ổn định nhiệt/oxy hóa các đặc tính ma sát và hiệu quả của chất phụ gia nếu được bổ sung vào dầu gốc bôi trơn. Nếu giá trị %Cp của dầu gốc bôi 16662 trơn cao hơn 99, độ hòa tan của chất phụ gia thường bị suy giảm.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với %Cn của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế, tuy nhiên, giá trị này tốt hơn là 3 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 5 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 7 hoặc cao hơn và tốt hơn là 30 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 20 hoặc thấp hơn, tốt nhất là 15 hoặc thấp hơn. Nếu giá trị %CN của dầu gốc bôi trơn cao hơn 30, chế phẩm tạo ra thường bị suy giảm về các đặc tính độ nhớt - nhiệt độ, độ ổn định nhiệt/oxy hóa và các đặc tính ma sát. Nếu giá trị %Cn thấp hơn 3, độ hòa tan của chất phụ gia thường bị suy giảm.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với giá trị %CA của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế, tuy nhiên, tốt hơn giá trị này là 5 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 2 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1,5 hoặc thấp hơn, tốt nhất là 1 hoặc thấp hơn. Nếu như giá trị %Ccủa dầu gốc bôi trơn cao hơn 5, chế phẩm tạo ra thường bị suy giảm về các đặc tính độ nhớt - nhiệt độ, độ ổn định nhiệt/oxy hóa và các đặc tính ma sát. Mặc dù giá trị %Ccủa dầu gốc bôi trơn theo sáng chế có thể bằng 0, việc sử dụng dầu gốc bôi trơn với giá trị %CA bằng 0,1 hoặc cao hơn có thể làm tăng thêm độ hòa tan của chất phụ gia.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với tỷ lệ của %Cp và %CN trong dầu gốc bôi trơn theo sáng chế, tuy nhiên, tỷ lệ này tốt hơn là 4 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 6 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 7 hoặc cao hơn. Nếu tỷ lệ %Cp/%CN thấp hơn 4, chế phẩm tạo ra thường bị suy giảm về các đặc tính độ nhớt - nhiệt độ, độ ổn định nhiệt/oxy hóa và các đặc tính ma sát, và hiệu quả của chất phụ gia nếu được bổ sung vào dầu gốc bôi trơn thường bị suy giảm. Tỷ lệ %Cp/%CN tốt hơn là 35 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 20 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 15 hoặc thấp hơn, tốt nhất là 13 hoặc thấp hơn. Việc sử dụng dầu gốc bôi trơn có tỷ lệ %Cp/%CN là 35 hoặc thấp hơn có thể làm tăng thêm độ hòa tan của chất phụ gia.

Giá trị %Cp, %CN, và %CA trong sáng chế lần lượt dùng để chỉ tỷ lệ % của số nguyên tử cacbon parafin trong tổng số nguyên tử cacbon, tỷ lệ % của số nguyên tử cacbon naphten trong tổng số nguyên tử cacbon, và tỷ lệ % của số nguyên tử cacbon thơm trong tổng số nguyên tử cacbon, được xác định bằng phương pháp (phân tích vòng n-d-M) theo tiêu chuẩn ASTM D 3238-85. Cụ thể hơn, các khoảng giá trị %Cp, %CN và %CA được ưu tiên trên đây là dựa vào các giá trị được xác định bằng phương 16662 pháp mô tả ở trên và ví dụ, thậm chí nếu dầu gốc bôi trơn không chứa naphten, thì giá trị %Cn có thể biểu hiện giá trị lớn hơn 0.

Lượng lưu huỳnh của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế tốt hơn là 100 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 50 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 10 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất là 5 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, và tốt nhất là dầu gốc không chứa lưu huỳnh.

Độ nhớt động học ở 100°C của dầu gốc bôi trơn theo sáng chế cần phải là 8mm /s hoặc thấp hơn, tốt hơn là 6mm /s hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 5mm /s hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 4,5mm /s hoặc thấp hơn. Trong khi đó, độ nhớt động học ở 100°C cần phải là 2mm /s hoặc cao hơn, tốt hơn là 2,5mm /s hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 3mm2/s hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 3,5mm2/s hoặc cao hơn.

Độ nhớt động học ở 100°C trong bản mô tả này được dùng để chỉ độ nhớt động học ở 100°C được xác định theo tiêu chuẩn ASTM D-445. Nếu độ nhớt động học ở 100°C của thành phần dầu gốc bôi trơn cao hon 8mm /giây, chế phẩm tạo ra sẽ bị suy giảm về các đặc tính độ nhớt ở nhiệt độ thấp và có thể không có được các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu được cải thiện một cách đủ hiệu quả. Nếu độ nhớt động học ở 100°C thấp hơn 2mm2/giây, chế phẩm dầu bôi trơn tạo ra sẽ có khả năng bôi trơn kém do sự hình thành màng dầu không đủ hiệu quả của nó tại các vị trí bôi trơn và hỗn hợp sẽ tổn thất nhiều do bay hơi.

Dầu gốc bôi trơn theo sáng chế có thể là dầu gốc tổng hợp có độ nhớt động học ở 100°C nằm trong khoảng từ 2 đến 8mm2/giây. Ví dụ về các dầu gốc tổng hợp bao gồm các poly-α-olefín và hợp chất được hyđro của hóa chúng; các oligome isobuten và hợp chất được hyđro hóa của chúng; các parafin; alkylbenzen; alkylnaphtalen; đieste như đitriđexylglutarat, đi-2-etylhexyl ađipat, điisođexylađipat, đitriđexylađipat và đi-2-etylhexyl sebacat; các polyol este như trimetylolpropan caprylat, trimetylolpropan pelargonat, pentaerytritol 2-etylhexanoat và pentaerytritol pelargonat; các polyoxyalkylen glycol; đialkylđiphenyl ete; và các polyphenyl ete. Dầu gốc bôi trơn tổng hợp ưu tiên đó là poly-a-olefin. Ví dụ điển hình về poly-α-olefin bao gồm oligome hoặc cooligome của α-olefin có từ 2 đến 32, tốt hơn là từ 6 đến 16 nguyên tử cacbon, như 1-octen oligome, đexen oligome, etylen-propylen cooligome và 16662 hợp chất được hyđro hóa của chúng.

Dầu gốc bôi trơn nêu trên có thể được sử dụng ở dạng riêng rẽ hoặc kết hợp với một hoặc nhiều loại dầu gốc khác. Khi dầu gốc theo sáng chế được sử dụng kết họp với các dầu gốc khác, tỷ lệ của dầu gốc theo sáng chế trong dầu gốc kết hợp tốt hơn là 30% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 50% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 70% theo khối lượng hoặc cao hơn.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với các dầu gốc khác được sử dụng kết hợp với dầu gốc theo sáng chế. Tuy nhiên, ví dụ về dầu gốc khoáng khác bao gồm dầu gốc khoáng và dầu gốc tổng họp.

Ví dụ về dầu gốc khoáng bao gồm dầu khoáng được tinh chế bằng dung môi, dầu khoáng được hyđrocracking, dầu khoáng được tinh chế bằng hyđro và dầu khoáng loại bỏ sáp bằng dung môi, tất cả các dầu này có độ nhớt động học ở 100°C cao hơn 20mm2/s và bằng 200mm2/s hoặc thấp hơn.

Ví dụ về dầu gốc tổng hợp bao gồm các dầu gốc tổng hợp mô tả ở trên, tuy nhiên, các dầu này có độ nhớt động học ở 100°C nằm bên ngoài khoảng từ 2 đến 8mm2/giây.

Thành phần (B) được sử dụng theo sáng chế là chất tẩy rửa kim loại có tỷ lệ kim loại nằm trong khoảng từ 1,01 đến 3,3, được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ.

Ví dụ về chất tẩy rửa kim loại của chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ bao gồm kim loại kiềm thổ sulfonat, salixylat của kim loại kiềm thổ, kim loại kiềm thổ phenat và kim loại kiềm thổ phosphonat.

Ví dụ về kim loại kiềm thổ sulfonat bao gồm muối kim loại kiềm thổ, tốt hơn là các muối magie và canxi, tốt nhất là muối canxi của axit sulfonic với alkyl thơm được tạo ra bằng cách sulfonat hóa họp chất alkyl thơm.

Ví dụ cụ thể về axit sulfonic với allcyl thơm bao gồm axit sulfonic dầu mỏ và axit sulfonic tổng hợp.

Axit sulfonic dầu mỏ có thể là các hợp chất được tạo ra bằng cách sulfonat hóa hợp chất alkyl thơm chứa trong phân đoạn dầu bôi trơn của dầu khoáng hoặc có thể là 16662 hỗn hợp các dẫn xuất của axit sulfonic có màu đen tan trong dầu được tạo ra ở dạng sản phẩm phụ trong khi sản xuất dầu trắng. Axit sulfonic tổng hợp có thể là các hợp chất được tạo ra bằng cách sulfonat hóa alkyl benzen alkyl mạch thẳng hoặc mạch nhánh, được tạo ra ở dạng sản phẩm phụ từ nhà máy sản xuất alkyl benzen được sử dụng làm nguyên liệu thô của chất tẩy rửa hoặc được tạo ra bằng cách alkyl hóa polyolefin thành benzen, hoặc là các hợp chất được tạo ra bằng cách sulfonat hóa alkylnaphtalen như đinonylnaphtalen.

Nhóm alkyl tốt hơn là có mạch thẳng.

Các chất sulfonat hóa được sử dụng trong quá trình sulfonat hóa các hợp chất alkyl thơm này thường là anhyđrit sulfuric hoặc axit sulfuric bốc khói.

Ví dụ về kim loại kiềm thổ phenat bao gồm các muối với kim loại kiềm thổ, cụ thê là các muối magie và/hoặc muối canxi của alkylphenol hoặc alkylphenol sulfua có nhóm alkyl hoặc alkenyl, và sản phẩm của phản ứng Mannich của alkylphenol. Tốt hơn là các kim loại kiềm thổ phenat không chứa lưu huỳnh.

Nhóm alkyl tốt hơn là có mạch thẳng.

Ví dụ về salixylat của kim loại kiềm thổ bao gồm salixylat có nhóm alkyl hoặc alkenyl của kim loại kiềm thổ và/hoặc các muối kiềm (được kiềm hóa quá mức) của chúng. Ví dụ về kim loại kiềm thổ bao gồm magie, bari và canxi. Tốt hơn là magie và canxi. Tốt hơn là sử dụng các salixylat có một nhóm alkyl hoặc alkenyl của kim loại kiềm thổ trên mỗi phân tử và/hoặc các muối kiềm (được kiềm hóa quá mức) của chúng. Ví dụ, các hợp chất có công thức (1) dưới đây có thể được sử dụng.

Trong công thức (1), R1 là nhóm alkyl hoặc alkenyl, M là kim loại kiềm thổ, tốt hơn là canxi hoặc magie, tốt nhất là canxi, và n bằng 1 hoặc 2.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với phương pháp sản xuất salixylat của kim loại kiềm thổ. Phương pháp bất kỳ trong số các phương pháp sản xuất 16662 monoalkylsalixylat đã biết có thể được sử dụng. Ví dụ, axit monoalkylsalixylic được tạo ra bằng cách alkyl hóa phenol làm nguyên liệu khởi đầu sử dụng olefin và sau đó, carboxyl hóa phenol hoặc theo cách khác alkyl hóa axit salixylic làm nguyên liệu khởi đầu sử dụng một lượng hợp thức của olefin. Sau đó, axit monoalkylsalixylic được cho phản ứng với bazơ kim loại như kim loại kiềm hoặc oxit hoặc hyđroxit kim loại kiềm thổ hoặc được biến đổi thành muối kim loại kiềm như muối natri hoặc muối kali, muối kim loại kiềm này có thể được tiếp tục thế bằng kim loại kiềm thổ.

Chất tẩy rửa kim loại được sử dụng làm thành phần (B) là chất tẩy rửa kim loại hòa tan trong dầu được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ.

Phương pháp bất kỳ có thể được sử dụng để tạo ra chất tẩy rửa kim loại hòa tan trong dầu được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ. Ví dụ, axit boric hoặc anhyđrit boric được phản ứng với chất tẩy rửa kim loại mô tả ở trên với sự có mặt của nước, rượu như metanol, etanol, propanol hoặc butanol và dung môi pha loãng như benzen, toluen hoặc xylen ở nhiệt độ nằm trong khoảng từ 20 đến 200°C trong thời gian nằm trong khoảng từ 2 đến 8 giờ và sau đó, được gia nhiệt tới nhiệt độ nằm trong khoảng từ 100 đến 200°C, tiếp theo bằng cách loại bỏ nước và nếu cần, rượu và dung môi pha loãng bằng cách đó tạo ra chất tẩy rửa kim loại hòa tan trong dầu được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ. Các điều kiện phản ứng chi tiết này được chọn tùy ý tùy thuộc vào lượng nguyên liệu thô và sản phẩm phản ứng. Chi tiết của phương pháp được mô tả, ví dụ, trong công bố đơn yêu cầu cấp Patent Nhật Bản chưa xét nghiệm số 60-116688 và 61-204298.

Axit boric được đề cập trong bản mô tả tốt hơn là axit orthoboric, axit metaboric và axit tetraboric. Ví dụ cụ thể về borat bao gồm muối kim loại kiềm, muối kim loại kiềm thổ hoặc muối amoni của axit boric. Ví dụ cụ thể hơn nữa bao gồm lithi borat như lithi metaborat, lithi tetraborat, lithi pentaborat và lithi perborat; natriborat như natri metaborat, natriđiborat, natri tetraborat, natri pentaborat, natri hexaborat và natri octaborat; kaliborat như kali metaborat, kali tetraborat, kali pentaborat, kali hexaborat và kali octaborat; canxiborat như canxi metaborat, canxiđiborat, tricanxi tetraborat, pentacanxi tetraborat và canxi hexaborat; magieborat như magie metaborat, magieđiborat, trimagie tetraborat, pentamagie tetraborat và magie hexaborat; và 16662 amoniborat như amoni metaborat, amoni tetraborat, amoni pentaborat và amoni octaborat.

Đường kính hạt trung bình của borat của kim loại kiềm thổ sử dụng cho chất tẩy rửa kim loại hòa tan trong dầu được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ được sử dụng làm thành phần (B) tốt hơn là 0,1 µm hoặc nhỏ hơn, tốt hơn nữa là 0,05µm hoặc nhỏ hơn.

Chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ được sử dụng làm thành phần (B) tốt hơn là salixylat. Đó là vì salixylat làm giảm tổn thất do ma sát và tạo ra hiệu quả tiết kiệm nhiên liệu rất tốt.

Tỷ lệ kim loại của thành phần (B), tức là, chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ được sử dụng trong sáng chế tốt hơn nằm trong khoảng từ 1,01 đến 3,3.

Chất tẩy rửa kim loại được điều chỉnh để có tỷ lệ kim loại tốt hơn là 3,2 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 3,0 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 2,8 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 2,4 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 2,2 hoặc thấp hơn, tốt nhất là 2,0 hoặc thấp hơn. tốt nhất 1,9 hoặc thấp hơn. Nếu tỷ lệ kim loại cao hơn 3,3, mômen ma sát ở hệ thống van dẫn động sẽ được làm giảm một cách không đủ hiệu quả.

Chất tẩy rửa kim loại được điều chỉnh để có tỷ lệ kim loại tốt hơn là 1,05 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 1,1 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 1,5 hoặc cao hơn, tốt nhất là 1,7 hoặc cao hơn, tốt nhất 1,8 hoặc cao hơn. Điều này là vì nếu tỷ lệ kim loại thấp hơn 1,01, chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong tạo ra sẽ có độ nhót động học và độ nhót ở nhiệt độ thấp cao và do đó sẽ gây ra các vấn đề về khả năng bôi trơn hoặc khả năng khởi động.

Theo phương án khác, chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ được sử dụng làm thành phần (B) có thể là một hoặc hỗn hợp của hai hoặc nhiều loại chất tẩy rửa mà tỷ lệ kim loại của hỗn hợp này nằm trong khoảng từ 1,01 đến 3,3. Theo phương án khác, ngoài chất tẩy rửa với tỷ lệ kim loại nằm trong khoảng từ 1,01 đến 3,3, thành phần (B) có thể là hỗn hợp với một hoặc nhiều loại chất tẩy rửa mà tỷ lệ kim loại của nó thấp hơn 1,01 và chất tẩy rửa mà tỷ lệ 16662 kim loại của nó cao hơn 3,3 được điều chỉnh để có tỷ lệ kim loại nằm trong khoảng từ

1,01 đến 3,3. Để làm giảm ma sát hiệu quả hơn, tốt hơn là sử dụng chất tẩy rửa được tổng hợp từ một thành phần duy nhất.

Thuật ngữ "tỷ lệ kim loại" sử dụng trong bản mô tả này được thể hiện bằng

(hóa trị của nguyên tố kim loại trong chất tẩy rửa salixylat) x (lượng nguyên tố kim loại (mol%))/(lượng nhóm xà phòng (mol%)). Nguyên tố kim loại để chỉ canxi và magie. Nhóm xà phòng để chỉ các nhóm axit sulfonic, phenol và axit salixylic.

Theo sáng chế, tốt hơn thành phần (B) chứa chất tẩy rửa kim loại được tạo ra bằng cách kiềm hóa quá mức hỗn hợp của (B-1) chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ mà nhóm alkyl hoặc alkenyl của nó có từ 8 đến 19 nguyên tử cacbon và (B-2) chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ mà nhóm alkyl hoặc alkenyl của nó có từ 20 đến 40 nguyên tử cacbon, bằng borat của kim loại kiềm thổ.

Theo sáng chế, tốt hơn thành phần (B) chứa (B-1) chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ mà nhóm alkyl hoặc alkenyl của nó có từ 8 đến 19 nguyên tử cacbon và/hoặc chất tẩy rửa kim loại được tạo ra bằng cách kiềm hóa quá mức chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ bằng borat của kim loại kiềm thổ và (B-2) chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ mà nhóm alkyl hoặc alkenyl của nó có lừ 20 đến 40 nguyên tử cacbon và/hoặc chất tẩy rửa kim loại được tạo ra bằng cách kiềm hóa quá mức chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ bằng borat của kim loại kiềm thổ.

Theo sáng chế, tốt hơn thành phần (B) chứa (B-1) chất tẩy rửa kim loại được tạo ra bằng cách kiềm hóa quá mức chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ mà nhóm alkyl hoặc alkenyl của nó có từ 8 đến 19 nguyên tử cacbon bằng borat của kim loại kiềm thổ và (B-2) chất tẩy rửa kim loại được tạo ra bằng cách kiềm hóa quá mức chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ mà nhóm alkyl hoặc alkenyl của nó có từ 20 đến 40 nguyên tử cacbon bằng borat của kim loại kiềm thổ.

Nhóm alkyl hoặc alkenyl của thành phần (B-1), tức là, chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ là nhóm alkyl hoặc alkenyl có 8 hoặc nhiều hơn, tốt hơn là 10 hoặc nhiều hơn, tốt hơn nữa là 12 hoặc nhiều hơn 12 nguyên tử cacbon và có 19 hoặc ít hơn 19 nguyên tử cacbon. Nếu thành phần (B-1) có nhóm alkyl hoặc alkenylcó ít hơn 8 nguyên tử cacbon, nó sẽ có độ hòa tan dầu không đủ hiệu quả. 16662

Nhóm alkyl hoặc alkenyl có thể là mạch thẳng hoặc mạch nhánh nhưng tốt hơn là mạch thẳng. Nhóm alkyl hoặc alkenyl có thể là nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc nhất, nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc hai hoặc nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc ba, tuy nhiên đối với nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc hai hoặc nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc ba, vị trí của nhánh tốt hơn là chỉ ở cacbon liên kết với gốc thơm.

Chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thô làm thành phần (B-2) có thể là đồng như chất tẩy rửa của thành phần (B-1), chỉ khác ở chỗ, nhóm alkyl hoặc alkenyl có từ 20 đến 40 nguyên tử cacbon.

Nhóm alkyl hoặc alkenyl của thành phần (B-2), tức là, chất tẩy rửa kim loại kiềm thổ là nhóm alkyl hoặc alkenyl có 20 hoặc nhiều hơn, tốt hơn là 22 hoặc nhiều hơn 22 nguyên tử cacbon và có 40 hoặc ít hơn, tốt hơn là 30 hoặc ít hơn 30 nguyên tử cacbon. Nếu thành phần (B-2) có nhóm alkyl hoặc alkenyl có ít hơn 20 nguyên tử cacbon, hiệu quả tiết kiệm nhiên liệu mà là mục đích của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động; cơ đốt trong theo sáng chế sẽ bị giảm. Nếu thành phần (B-2) có nhóm alkyl hoặc alkenyl có nhiều hơn 40 nguyên tử cacbon, chế phẩm tạo ra sẽ bị giảm về độ lưu động ở nhiệt độ thấp.

Thành phần (B-1) có mặt với lượng nằm trong khoảng từ 55 đến 100% theo khối lượng, tốt hơn là 60% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 65% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 70% theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng của các thành phần (B-1) và (B-2) nhằm mục đích duy trì độ nhớt ở nhiệt độ thấp được xác định bằng kỹ thuật MRV hoặc tương tự. Nếu lượng của thành phần (B-1) thấp hơn 55% theo khối lượng, hiệu quả làm giảm mômen ma sát ở hệ thống van dẫn động được cải thiện nhưng chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong tạo ra sẽ bị gia tăng về độ nhớt ở nhiệt độ thấp và do đó sẽ bị giảm khả năng khởi động ở nhiệt độ thấp và đặc tính tiết kiệm nhiên liệu ở nhiệt độ dầu thấp.

Thành phần (B-2) là thành phần điều chỉnh của thành phần (B-1) trong thành phần (B).

Thành phần (B-2) tốt hơn có mặt với lượng là 5% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 10% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 20% theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng của các thành phần (B-1) và (B-2) nhằm 16662 mục đích cải thiện hiệu quả làm giảm mômen ma sát ở hệ thống van dẫn động.

Trong chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế, thành phần (B), tức là, chất tẩy rửa kim loại được kiềm hóa quá mức bằng borat của kim loại kiềm thổ được trộn kết hợp với lượng nằm trong khoảng từ 0,01 đến 15% theo khối lượng, tốt hơn là 0,5% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 1,0% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 2% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất 3% theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn. Thành phần (B) được trộn kết hợp với lượng tốt hơn là 10% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 7% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất 5% theo khối lượng hoặc thấp hơn.

Lượng kim loại (MB1) có nguồn gốc từ thành phần (B) trong chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế tốt hơn nằm trong khoảng từ 0,01 đến 5% theo khối lượng, tốt hơn nữa là 0,05% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,1% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất là 0,15% theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn. Nếu lượng kim loại có nguồn gốc từ thành phần (B) thấp hơn 0,01% theo khối lượng, các dặc tính chống oxy hóa và tác dụng tẩy rửa cần thiết của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong sẽ bị giảm. Lượng kim loại tốt hơn là 2% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 0,5% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất là 0,3% theo khối lượng hoặc thấp hơn. Nếu lượng kim loại có nguồn gốc tò thành phần (B) cao hơn 5% theo khối lượng, các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu sẽ bị giảm.

Lượng bo (MB2) có nguồn gốc từ thành phần (B) trong chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế tốt hơn nằm trong khoảng từ 0,01 đến 0,2% theo khối lượng, tốt hơn nữa là 0,02% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hon nữa là 0,03% theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn. Nếu lượng bo có nguồn gốc từ thành phần (B) thấp hơn 0,01% theo khối lượng, các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu sẽ bị giảm. Lượng bo tốt hon là 0,15% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 0,1% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 0,08% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất là 0,07% theo khối lượng hoặc thấp hơn. Nếu lượng bo có nguồn sốc từ thành phần (B) cao hơn 0,2% theo khối lượng, các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu sẽ bị giảm. 16662

Tỷ lệ (MB1)/(MB2) của lượng kim loại có nguồn gốc từ thành phần (B) (MB1) và lượng bo có nguồn gốc từ thành phần (B) (MB2) trong chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế tốt hơn bằng 1 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa bằng 2 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa bằng 2,5 hoặc cao hơn. Nếu tỷ lệ (MB1)/(MB2) thấp hơn 1, các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu có thể sẽ bị giảm. Tỷ số (MB1)/(MB2) tốt hơn bằng 20 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa bằng 15 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa bằng 10 hoặc thấp hơn, tốt nhất bằng 5 hoặc thấp hơn. Nếu tỷ số (MB1)/(MB2) cao hơn 20, các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu có thể sẽ bị giảm.

Lượng giới hạn dưới của thành phần (B) là 0,1% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn là 0,2% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,5% theo khối lượng hoặc cao hơn trên cơ sở của lượng tro được sulfat hóa của tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong. Trong khi đó, lượng giới hạn trên là 1,5% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn là 1,0% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 0,8% theo khối lượng hoặc thấp hơn.

Thuật ngữ "tro được sulfat hóa" sử dụng trong bản mô tả để chỉ lượng tro được sulfat hóa được xác định theo Phần 5 trong "Phương pháp thử nghiệm xác định lượng tro được sulfat hóa" ("Testing Method of Sulfated Ash") được quy định trong tài liệu Tiêu chuẩn JIS K2272-1985 "Phương pháp thử nghiệm xác định lượng tro và lượng tro được sulfat hó của dầu thô và các sàn phẩm dầu mỏ" ("Testing Methods for Ash and Sulfated Ash of Crude Oil and Petroleum Products").

Lượng của thành phần (B) trong chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế tốt hơn nằm trong khoảng từ 0,1 đến 20% theo khối lượng, tốt hơn nữa là 1,0% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 2,0% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất là 3,0% theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn. Nếu lượng của thành phần (B) thấp hơn 0,1% theo khối lượng, các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu có thể sẽ bị giảm. Lượng của thành phần (B) tốt hơn là 10% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 8.0% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 6,0% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất là 5,0% theo khối lượng hoặc thấp hơn. Nêu lượng bo nguồn gốc từ thành phần (B) cao hơn 20% theo khối lượng, các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu có thể sẽ bị giảm. 16662

Thành phần (C) sử dụng trong sáng chế là hợp chất raolypđen hữu cơ. Ví dụ về hợp chất molypđen hữu cơ bao gồm molypđen đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa hoặc oxymolypđen đithiophosphat được lưu huỳnh hóa, molypđen đithiophosphat được lưu huỳnh hóa hoặc oxymolypđen đithiophosphat được lưu huỳnh hóa, các phức amin của molypđen, các phức suxinimit của molypđen, các muối molypđen của axit hữu cơ và các muối molypđen của rượu. Thành phần (C) sử dụng trong sáng chế tốt hơn là molypđen đithiocarbamat.

Molypđen đithiocarbamat có thể là hợp chất có công thức (2) dưới đây.

Trong công thức (2) nêu trên, R1, R2, R3 và R4 có thể là giống nhau hoặc khác nhau và mỗi gốc là nhóm hyđrocacbon như nhóm alkyl có từ 2 đến 24, tốt hơn là có từ 4 đến 13 nguyên tử cacbon hoặc nhóm aryl (bao gồm cả nhóm alkylaryl) có từ 6 đến 24, tốt hơn là có từ 8 đến 15 nguyên tử cacbon. X1 , X2 , X3 và X4 có thể là giống nhau hoặc khác nhau và mỗi gốc là lưu huỳnh hoặc oxy. Nhóm alkyl hoặc alkenyl trong bản mô tả này bao gồm nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc nhất, nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc hai hoặc nhóm alkyl hoặc alkenyl bậc ba. Các nhóm alkyl hoặc alkenyl này có thể là mạch thẳng hoặc mạch nhánh.

Ví dụ cụ thể về các molypđen đithiocarbamat được ưu tiên hơn bao gồm molypđen đietylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, molypđenđipropylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, molypđenđibutylđitiocarbahmat được lưu huỳnh hóa, molypđen-đipentylđithiocarbamat đưcrc lưu huỳnh hóa, molypđenđihexylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, molypdenđioctylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, molypđenđiđexyl-đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, molypđenđiđođexylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, molypđenđi(butylphenyl)đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, molypđen-đi(nonylphenyl)đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđenđietylđithio-carbamat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđenđipropylđithiocarbamat được lưu huỳnh 16662 hóa, oxymolypdenđibutylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđenđipentyl-đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđenđihexylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđenđioctylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđen-điđexylđithiocarbaraat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđenđiđođexylđithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, oxymolypđenđi(butylphenyl)đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa và oxymolypđenđi(nonylphenyl)đithiocarbamat được lưu huỳnh hóa, trong số các hợp chất này, nhóm alkyl hoặc alkenyl có thể là mạch thẳng hoặc mạch nhánh và nhóm alkyl của các nhóm alkylphenyl và nhóm alkenyl có thể liên kết với vị trí bất kỳ và hỗn hợp của chúng. Ngoài ra, hợp chất có các nhóm hyđrocacbon trong một phân tử mà mỗi nhóm có số lượng cacbon và/hoặc cấu trúc khác nhau tốt hơn cũng được sử dụng.

Lượng của thành phần (C) tốt hơn là 100 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 500 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 600 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất là 700 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn trên cơ sở lượng molypđen của tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong với mục đích làm giảm ma sát. Trong khi đó, lượng của thành phần (C) tốt hơn là 2000 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1500 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1000 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn theo quan điểm để duy trì độ hòa tan trong; dầu gốc bôi trơn, độ ổn định khi bảo quản và độ ổn định oxy hóa.

Nếu lượng của thành phần (C) thấp hơn 100 ppm theo khối lượng, chế phẩm tạo ra sẽ có hiệu quả làm giảm ma sát kém. Nếu lượng của thành phần (C) cao hơn 2000 ppm theo khối lượng, thành phần (C) có thể sẽ kết tủa khi bảo quản trong thời gian dài do độ hòa tan thấp của nó trong poly-α-olefin hoặc họp chất được hyđro hóa của nó và sẽ bị giảm về độ ổn định oxy hóa khi sử dụng trong thời gian dài.

Chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế tốt hơn chứa chất phân tán không tạo tro được boronat hóa làm thành phần (D).

Ví dụ về chất phân tán không tạo tro được boronat hóa bao gồm các hợp chất chứa nitơ mà trong phân tử của chúng có ít nhất một nhóm alkyl hoặc alkenyl mạch thẳng hoặc mạch nhánh có từ 40 đến 400 nguyên tử cacbon và các dẫn xuất của nó và 16662 các sản phẩm được boronat hóa của các alkenyl suxiniximit. Bất kỳ một hoặc nhiều loại được chọn từ các chất phân tán không tạo tro này có thể được trộn kết hợp trong chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế.

Thành phần (D) có thể là chất phân tán không tạo tro được boronat hóa bất kỳ mà thường được sử dụng trong dầu bôi trơn, nhưng tốt hơn là suxinimit được boronat hóa do tác dụng tầy rửa tuyệt vời của nó.

Số lượng cacbon của nhóm alkyl hoặc alkenyl của chất phân tán không tạo tro tốt hơn nằm trong khoảng từ 40 đến 400, tốt hơn nữa từ 60 đến 350. Nếu số lượng cacbon của nhóm alkyl hoặc alkenyl nhỏ hơn 40, chất phân tán không tạo tro thường bị suy giảm về độ hòa tan trong dầu gốc bôi trơn. Trái lại, nếu số lượng cacbon của nhóm alkyl hoặc alkenyl cao hơn 400, chế phẩm dầu bôi trơn tạo ra sẽ bị giảm về độ lưu động ở nhiệt độ thấp. Nhóm alkyl hoặc alkenyl có thể là mạch thẳng hoặc mạch nhánh, nhưng tốt hơn là nhóm alkyl hoặc alkenyl mạch nhánh nguồn gốc từ oligome của các olefin như propyl en, 1-buten hoặc isobutylen hoặc cooligome của etylen và propylen.

Chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế có thể chứa một hoặc cả hai suxinimit kiểu mono và kiểu bis.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với phương pháp điều chế các suxinimit này. Ví dụ, phương pháp có thể được sử dụng, trong đó alkyl hoặc alkenyl suxinimit, mà được tạo ra bằng cách cho hợp chất có nhóm alkyl hoặc alkenyl có từ 40 đến 400 nguyên tử cacbon phản ứng với anhyđrit maleic ở nhiệt độ nằm trong khoảng từ 100 đến 200°C, được phản ứng với polyamin. Ví dụ về polyamin bao gồm đietylen triamin, trietylen tetramin, tetraetylen pentamin, và pentaetylen hexamin.

Theo cách khác, chất phân tán không tạo tro được boronat hóa có thể là benzylamin được boronat hóa. Ví dụ về benzylamin được ưu tiên là các hợp chất có công thức (3) dưới đây. 16662

Trong công thức (3), R1 là nhóm alkyl hoặc alkenyl có từ 40 đến 400, tốt hơn là từ 60 đến 350 nguyên tử cacbon và r là sổ nguyên nằm trong khoảng từ 1 đến 5, tốt hơn nằm trong khoảng từ 2 đến 4.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với phương pháp sản xuất benzylamin. Các hợp chất này có thể được tạo ra bằng cách cho polyolefm như propylen oligome, polybuten hoặc copolyme của etylen-α-olefĩn phản ứng với phenol để tạo ra alkylphenol và sau đó alkylphenol này được tiến hành phản ứng Mannich với formaldehyt và polyamin như đietylentriamin, trietylentetramin, tetraetylenpentamin hoặc pentaetylenhexamin.

Theo cách khác, chất phân tán không tạo tro được boronat hóa có thể là polyamin được boronat hóa. Ví dụ cụ thể về polyamin được boronat hóa bao gồm các hợp chất được boronat hóa có công thức (4) dưới đây.

R-NH-(CH2CH2NH)s-H (4)

Trong công thức (4), R là nhóm alkyl hoặc alkenyl có từ 40 đến 400, tốt hơn là từ 60 đến 350 nguyên tử cacbon và s là số nguyên nằm trong khoảng từ 1 đến 5, tốt hơn nằm trong khoảng từ 2 đến 4.

Không có giói hạn cụ thể nào đối với phương pháp điều chế polyamin. Ví dụ, các polyamin có thể được tạo ra bằng cách clo hóa polyolefin như propylenoligome, polybuten hoặc copolyme của etylen-α-olefin và bằng phản ứng của polyolefin clo hóa với amoniac hoặc polyamin như etylenđiamin, đietylentriamin, trietylentetramin, tetraetylenpentamin và pentaetylenhexamin.

Quá trình được boronat hóa thường được thực hiện bằng cách cho hợp chất chứa nitơ được mô tả ở trên phản ứng với axit boric để trung hòa toàn bộ hoặc một phần của các nhóm amino và/hoặc imino còn lại.

Ví dụ về phương pháp điều "chế suxinimit được biến tính bằng axit boric là các phương pháp được bộc lộ trong các công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản số 42-8013 và 42-8014 và các công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản chưa xét nghiệm số 51-52381 và 51-130408. Cụ thể hơn nữa, suxinimit được biến tính bằng axit boric có 16662 thể được tạo ra bằng cách kết hợp polyamin và axit polybutenylsuxinic (anhyđrit) với hợp chất bo như axit boric, este của axit boric hoặc borat trong dung môi bao gồm rượu, dung môi hữu cơ như hexan hoặc xylen hoặc dầu gốc bôi trơn phân đoạn nhẹ và bằng cách gia nhiệt hỗn hợp trong điều kiện thích hợp. Lượng bo của suxinimit được biến tính bằng axit boric được tạo ra theo cách này thường nằm trong khoảng từ 0,1 đến 45% theo khối lượng.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với lượng bo trong trường hợp sử dụng chất phân tán không tạo tro chứa bo làm suxinimit chứa bo được mô tả ở trên, tuy nhiên, lượng này thường nằm trong khoảng từ 0,1 đến 3% theo khối lượng, tốt hơn là 0,2% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,5% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,8% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất là 1,0% theo khối lượng hoặc cao hơn. Lượng bo tốt hơn là 2% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1,7% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1,5% theo khối lượng hoặc thấp hơn. Chất phân tán không tạo tro chứa bo tốt hơn là suxinimit chứa bo, tốt nhất là suxinimit kiểu bis chứa bo, với lượng bo nằm trong khoảng nêu trên. Nếu lượng bo cao hơn 3% theo khối lượng, không chỉ có mối quan ngại về độ ổn định, mà còn có vấn đề về những tác động lên hệ thống xử lý khí thải tiếp theo đi kèm theo sự gia tăng về lượng tro được sulfat hóa do có quá nhiều bo trong chế phẩm. Nếu lượng bo thấp hơn 0,1% theo khối lượng, chế phẩm tạo ra kém hiệu quả trong việc cải thiện các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu và do đó tốt hơn là được sử dụng kết hợp với hợp chất chứa bo khác.

Không có giới hạn cụ thể nào đối với tỷ lệ khối lượng bo/niơ (tỷ lệ B/N) của chất phân tán không tạo tro chứa bo như suxinimit chứa bo được mô tả ở trên, tỷ lệ này thường nằm trong khoảng từ 0,05 đến 5, tốt hơn là 0,2 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,4 hoặc cao hơn, tốt nhất là 0,7 hoặc cao hơn. Tỷ lệ B/N tốt hơn là 2 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1,5 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1,0 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 0.9 hoặc thấp hơn. Chất phân tán không tạo tro chứa bo tốt hơn là suxinimit chứa bo với tỷ lệ B/N nằm trong khoảng này, tốt nhất là suxinimit kiểu bis chứa bo. Nếu tỷ lệ B/N cao hơn 5, không chỉ có mối quan ngại về độ ổn định, mà còn có vấn đề về những tác động lên hệ thống xử lý khí thải tiếp theo đi kèm theo sự gia tăng về lượng tro được sulfat hóa do có quá nhiều bo trong chế phẩm. Nếu tỷ lệ B/N thấp hơn 0,05, chế phẩm tạo ra kém hiệu quả trong việc cải thiện các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu và do đó tốt 16662 hơn là được sử dụng kết hợp với hợp chất chứa bo khác.

Lượng bo nguồn gốc từ thành phần (D) của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế là 0,01% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn là 0,02% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 0,03% theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất là 0,04% theo khối lượng hoặc cao hon dựa trên tổng khối lượng của chế phẩm dầu bôi trơn. Lượng bo tốt hơn là 0,15% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 0,1% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 0,07% theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất là 0,05% theo khối lượng hoặc thấp hơn.

Trọng lượng phân tử của thành phần (D) được xác định bằng số lượng cacbon của nhóm alkyl hoặc alkenyl và cấu trúc của polyamin của chất phân tán không tạo tro được mô tá ở trên, nhưng tốt hơn là 2500 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 3000 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 4000 hoặc cao hơn. Trong khi đó, trọng lượng phân tử tốt hơn là 10000 hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 8000 hoặc thấp hơn. Nếu trọng lượng phân tử thấp hơn 2500, chế phẩm tạo ra sẽ có hiệu quả tiết kiệm nhiên liệu thấp. Nếu trọng lượng phân tử cao hơn 10000, về cơ bản khó có thể tổng hợp được chất phân tán không tạo tro với trọng lượng phân tử cao này.

Lượng bo của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế tốt hơn là 450 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 600 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 700 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn, tốt nhất là 800 ppm theo khối lượng hoặc cao hơn dựa trên tổng khối lượng cửa chế phẩm. Lượng bo tốt hơn là 3000 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 2000 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 1500 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn, tốt nhất là 1000 ppm theo khối lượng hoặc thấp hơn. Nếu lượng bo thấp hơn 450 ppm theo khối lượng, chế phẩm tạo ra sẽ có hiệu quả tiết kiệm nhiên liệu thấp. Trong khi đó, nếu lượng bo cao hơn 3000 ppm theo khối lượng, chế phẩm tạo ra sẽ có độ nhớt tăng quá cao do lượng chất phụ gia bổ sung quá nhiều và sẽ có hiệu quả tiết kiệm nhiên liệu thấp.

Theo sáng chế, chất phân tán không tạo tro được boronat hóa tốt hơn nữa là được sử dụng kết hợp với chất phân tán không tạo tro không được boronat hóa. Chất phân tán không tạo tro không được boronat hóa được dùng để chỉ chất có cấu trúc của 16662 chất phân tán không tạo tro được boronat hóa được mô tả ở trên trước khi được boronat hỏa. Tương tự trong trường hợp này, tốt nhất là sử dụng hợp chất suxinimit.

Lý do vì sao tốt hơn nên sử dụng chất phân tán không tạo tro không được boronat hóa được sử dụng kết hợp là ở chỗ, hợp chất suxinimit được boronat hóa ở dạng riêng rẽ dễ tạo ra họp chất được boronat hóa không ổn định, hợp chất này thường sẽ bị kết tủa.

Chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế có thể được trộn kết hợp với chất phụ gia bất kỳ thường được sử dụng trong dầu bôi trơn tùy thuộc vào các mục đích nhằm tăng cường hơn nữa các đặc tính. Ví dụ về chất phụ gia này bao gồm chất cải thiện chỉ sổ độ nhớt, chất tẩy rửa kim loại không phải thành phần (B), chất điều chỉnh ma sát không phải thành phần (C), chất phân tán không tạo tro không phải thành phần (D), chất chống mòn (hoặc chất phụ gia cực áp), chất chống oxy hóa, chất chổng ăn mòn, chất chống gỉ, chất khử nhũ tương, chất khử hoạt tính kim loại, chất chống tạo bọt.

Tuy nhiên, theo sáng chế, chất tẩy rửa kim loại không phải thành phần (B) tốt hơn là không có mặt trong chế phẩm.

Chất cải thiện chỉ số độ nhớt tốt hơn là chất cải thiện chỉ số độ nhớt chứa nhóm este kiểu không phân tán hoặc kiểu phân tán. Ví dụ về chất cải thiện chỉ số độ nhớt bao gồm chất cải thiện chỉ số độ nhớt poly(met)acrylat kiểu không phân tán hoặc kiểu phân tán, chất cải thiện chỉ số độ nhớt copolyme của olefm-(met)acrylat kiểu không phân tán hoặc kiểu phân tán, chất cải thiện chỉ số độ nhót copolyme của este của styren-anhyđrit maleic và hỗn hợp của chúng. Tốt hơn là sử dụng chất cải thiện chỉ số độ nhớt poly(met)acrylat kiểu không phân tán hoặc kiểu phân tán. Tốt nhất là sử dụng chất cải thiện chỉ số độ nhớt poly(met)acrylat kiểu không phân tán hoặc kiểu phân tán.

Ví dụ khác về chất cải thiện chỉ số độ nhớt bao gồm các copolyme của etylen- α-olefin kiêu không phân tán hoặc kiểu phân tán hoặc hợp chất được hyđro hóa của chúng, polyisobutylen và hợp chất được hyđro hóa của chúng, copolyme của styren-đien được hyđro hóa và các polyalkylstyren.

Ví dụ về chất tẩy rửa kim loại không phải thành phần (B) bao gồm muối thông 16662 thường và/hoặc muối kiềm như sulfonat kim loại kiềm/kim loại kiềm thổ, phenat kim loại kiềm/kim loại kiềm thổ và salixylat kim loại kiềm/kim loại kiềm thổ. Ví dụ về kim loại kiềm bao gồm natri và kali. Ví dụ về kim loại kiềm thổ bao gồm magie, canxi và bari. Tốt hơn là magie và canxi. Tốt nhất là canxi.

Ví dụ về chất điều chỉnh ma sát không phải thành phần (C) bao gồm hợp chất bất kỳ thường được sử dụng làm chất điều chỉnh ma sát của dầu bôi trơn, ví dụ chất điều chỉnh ma sát không tạo tro.

Ví dụ về chất điều chỉnh ma sát không tạo tro này bao gồm chất điều chỉnh ma sát không tạo tro như các họp chất amin, este của axit béo, amit của axit béo, axit béo, rượu béo và ete béo, mỗi hợp chất này có ít nhất một nhóm alkyl hoặc alkenyl có từ 6 đến 30 nguyên tử cacbon, cụ thể là nhóm alkyl hoặc alkenyl mạch thẳng có từ 6 đến 30 nguyên tử cacbon trên mỗi phân tử. Theo cách khác, chất điều chỉnh ma sát không tạo tro có thể là một hoặc nhiều loại hợp chất được chọn từ hợp chất chứa nitơ và các dẫn xuất được biến tính bằng axit của nó hoặc các chất điều chỉnh ma sát không tạo tro khác như được mô tả trong công bố đơn quốc tế số WO 2005/037967.

Chất chống mòn (hoặc chất phụ gia cực áp) có thể là chất chống mòn hoặc chất phụ gia cực áp bất kỳ đã được sử dụng cho dầu bôi trơn. Ví dụ, chất phụ gia cực áp sulfuric, phosphoric và sulfuric-phosphoric có thể được sử dụng.Ví dụ cụ thể bao gồm kẽm đialkylđithiophosphat (ZnDTP). este của axit phosphorơ, este của axit thiophosphorơ, este của axit đithiophosphorơ, este của axit trithiophosphorơ, este của axit phosphoric, este của axit thiophosphoric, este của axit đithiophosphoric, este của axit trithiophosphoric, muối amin, muối kim loại hoặc dẫn xuất của chúng, đithiocarbamat, kẽm đithiocaramat, disulfua, polysulfua và mỡ và dầu được lưu huỳnh hóa. Trong số các chất chống mòn này, tốt hơn là sử dụng chất phụ gia cực áp sulfuric và tốt nhất là sử dụng mỡ và dầu được lưu huỳnh hóa.

Chất chống oxy hóa có thể là chất chống oxy hóa không tạo tro như chất chống oxy hóa trên cơ sở phenol hoặc amin hoặc chất chống oxy hóa kim loại như chất chống oxy hóa trên cơ sở đồng hoặc molypđen. Ví dụ cụ thể về chất chống oxy hóa trên cơ sở phenol bao gồm 4,4'-metylen bis(2,6-đi-tert-butylphenol) và 4,4'-bis(2,6-đi-tert-butylphenol). Ví dụ cụ thể về chất chống oxy hóa trên cơ sở amin bao 16662 gồm phenyl-α-naphtylamin, alkylphenyl-α-naphtylamin và đialkylđiphenylamin.

Ví dụ về chất chống ăn mòn bao gồm các hợp chất loại benzotriazol, tolyltriazol, thiadiazol và loại imidazol.

Ví dụ về chất chống gỉ bao gồm các sulfonat dầu mỏ, alkylbenzen sulfonat, đinonylnaphtalen sulfonat, các este của alkenyl axit suxinic và este của rượu polyhyđric.

Ví dụ về chất khử nhũ tương bao gồm chất hoạt động bề mặt không ion trên cơ sở polyalkylen glycol như polyoxyetylenalkyl ete, polyoxyetylenalkylphenyl ete và polyoxyetylenalkylnaphtyl ete.

Ví dụ về chất khử hoạt tính kim loại bao gồm imidazolin, các dẫn xuất pyrimidin, alkylthiadiazol, mercaptobenzothiazol, benzotriazol và các dẫn xuất của chúng, 1,3,4-thiađiazolpolysulfua, 1,3,4-thiađiazolyl-2,5-bisđialkylđithiocarbamat, 2-(alkylđithio)benzoimiđazol và β-(o-carboxybenzylthio)propionitril.

Ví dụ về chất chống tạo bọt bao gồm dầu silicon với độ nhót động học ở 25°C nằm trong khoảng từ 1000 đến 100000mm2/giây, các dẫn xuất axit alkenylsuxinic, các este của rượu béo nhiều lần rượu và các axit béo mạch dài, các muối amin thơm của metylsalixylat và rượu o-hyđroxybenzylic.

Khi các chất phụ gia này có mặt trong chế phẩm dầu bôi trơn theo sáng chế, chúng có mặt với lượng nằm trong khoảng từ 0,01 đến 10% theo khối lượng dựa trên tổng khối lượng chế phẩm.

Độ nhớt HTHS ở 100°C của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế là 5,5mPa.s hoặc thấp hơn, tốt hơn là 5,2mPa.s hoặc thấp hon, tốt hơn nữa là 5,1mPa.s hoặc thấp hơn, tốt nhất là 5,0mPa.s hoặc thấp hơn. Trong khi đó, độ nhớt HTHS ở 100°C tốt hơn là 3,5mPa.s hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 3,8mPa.s hoặc cao hơn, đặc biệt tốt hơn là 4,0mPa.s hoặc cao hơn, tốt nhất 4,2mPa.s hoặc cao hơn.

Nếu độ nhớt HTHS cao hơn 5,5mPa.s, chế phẩm tạo ra sẽ không có được các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu một cách đủ hiệu quả. Ngoài ra, độ nhớt ở nhiệt độ thấp 16662 cũng tăng lên, gây khó khăn cho việc khởi động động cơ. Trong khi đó, HTHS ở 100°C thấp hơn 3,5mPa. s, chế phẩm tạo ra sẽ có khả năng bôi trơn không đủ hiệu quả.

Độ nhớt HTHS ở 100°C trong bản mô tả này được dùng để chỉ độ nhớt ở tốc độ cắt cao ở nhiệt độ cao tại 100°C được xác định theo tiêu chuẩn ASTM D4683.

Độ nhớt HTHS ở 100°C chịu tác động bởi tỷ lệ kim loại của thành phần (B). Nếu tỷ lệ kim loại của thành phần (B) cao hơn 2,0, chế phẩm tạo ra có hiệu quả làm giảm ma sát giảm hơn so với trường hợp tỷ lệ kim loại bằng 1,0. Tuy nhiên, độ nhớt HTHS ở 100°C bị giảm khi tỷ lệ kim loại cao hơn.

Vì việc cải thiện về tiết kiệm nhiên liệu bằng dầu động cơ chịu tác động nhiều bởi sự tổn thất do ma sát động cơ gây ra bởi sự tiếp xúc trên bề mặt kim loại ở tốc độ thấp (1000 vòng/phút hoặc thấp hơn) và sức cản nhớt của việc bôi trơn bằng màng lỏng ở tốc độ cao hơn 1000 vòng/phút, độ nhớt HTHS ở 100°C thấp hơn là được ưu tiên.

Khi xem xét một cách toàn diện môi trường trong đó dầu động cơ được sử dụng, dầu động cơ với tổn thất do ma sát thấp hơn ở cả tốc độ thấp và tốc độ cao là có hiệu quả tiết kiệm nhiên liệu rất tốt. Do đó, tốt hơn là khoảng tỷ lệ kim loại của thành phần (B) nằm trong khoảng nêu trên.

Độ nhớt động học ở 100°C của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế tốt hơn nằm trong khoảng từ 2 đến 15mm2/s, tốt hơn nữa là 12mm2/s hoặc thấp hơn, tốt hơn nữa là 10mm2/s hoặc thấp hơn, tốt nhất 8mm2/s hoặc thấp hơn. Độ nhớt động học ở 100°C của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế tốt hơn là 5mm2/s hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 6mm2/s hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 6,5mm2/s hoặc cao hơn. Độ nhớt động học ở 100°C trong bản mô tả này được dùng để chỉ độ nhớt ở 100°C được xác định theo tiêu chuẩn ASTM D-445. Nếu độ nhớt động học ở 100°C thấp hơn 2mm /giây, chế phẩm dầu bôi trơn tạo ra sẽ có khả năng bôi trơn không đủ hiệu quả. Nếu độ nhót động học ở 100°C cao hơn 15mm2/giây, chế phẩm tạo ra sẽ không có được các đặc tính độ nhớt ở nhiệt độ thấp và các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu một cách đủ hiệu quả mong muốn.

Chỉ số độ nhớt của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo 16662 sáng chế tốt hơn nằm trong khoảng từ 140 đến 400, tốt hơn nữa là 190 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 200 hoặc cao hơn, tốt hơn nữa là 210 hoặc cao hơn, tốt nhất là 220 hoặc cao hơn. Nếu chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế có chỉ số độ nhớt thấp hơn 140, sẽ gây khó khăn trong việc cải thiện các đặc tính tiết kiệm nhiên liệu và giảm độ nhớt ở nhiệt độ thấp tại -35°C trong khi duy trì độ nhớt HTHS ở 150°C. Nếu chỉ số độ nhớt của chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong theo sáng chế cao hơn 400, chế phẩm tạo ra sẽ bị giảm về khả năng bay hơi và gây ra các rối loạn chức năng do độ hòa tan không đủ của chất phụ gia và sự không tương thích với vật liệu làm kín gây ra.

Ví dụ thực hiện sáng chế

Sáng chế sẽ được mô tả chi tiết hơn dưới đây bằng các ví dụ và ví dụ so sánh sau, nhưng không nhằm mục đích giới hạn phạm vi bảo hộ của sáng chế.

Thử nghiệm về lực ma sát tác động lên hệ thống van dẫn động

Đối với mỗi chế phẩm dầu bôi trơn dùng cho động cơ đốt trong của các ví dụ từ 1 đến 6 và các ví dụ so sánh từ 1 đến 6, mômen ma sát ở nhiệt độ dầu tại 100°C và số vòng quay 350 vòng/phút được xác định bằng cách sử dụng thiết bị có thể xác định mômen ma sát ở một cặp cam và cần của hệ thống van dẫn động trong động cơ 4 kỳ kiểu đánh lửa trực tiếp. Các điều kiện này là điều kiện hiệu quả thể hiện hiệu quả làm giảm ma sát tại các chi tiết tiếp xúc kim loại ở phần trượt của động cơ.

Tỷ lệ cải thiện của mỗi chế phẩm được tính toán trên cơ sở mômen ma sát của ví dụ so sánh 2. Kết quả được thể hiện trong bảng 1 và bảng 2. 16662 16662

10. Nội dung có thể chuyển giao

Liên hệ trực tiếp

11. Thị trường ứng dụng
12. Hình ảnh minh họa
In bài viết
Các phát minh, sáng chế khác
 
Banner
Banner home right